Sự phát triển về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp 2013

Hiến pháp 2013 – một văn kiện pháp lý đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Với bố cục 11 chương, 120 điều, Hiến pháp 2013 thực sự là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ về kinh tế, chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới, là bản Hiến pháp phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta, quy định rõ ràng, đúng đắn và đầy đủ về mọi phương diện, trong đó có nội dung hết sức quan trọng đó là Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Vấn đề Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một trong những nội dung quan trọng đối với chế độ một Nhà nước. Ở nước ta, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời ở Hiến pháp 1946, và tiếp tục hoàn thiện, phát triển ở các bản Hiến pháp tiếp theo.

Hiến pháp 2013, “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được quy định trong Chương II. Ở Hiến pháp 2013, Hiến pháp đã phân biệt sự khác nhau giữa “Quyền con người” và“Quyền công dân”. Theo đó, quyền con người được quan niệm là quyền tự nhiên vốn có của con người từ lúc sinh ra, còn quyền công dân, trước hết cũng là quyền con người, nhưng việc xác định và thực hiện nó gắn với quốc tịch, tức là gắn với vị trí pháp lý của công dân trong quan hệ với Nhà nước, được Nhà nước đảm bảo đối với công dân của nước mình. Chỉ có những người có quốc tịch mới được hưởng quyền công dân của quốc gia đó. Để làm rõ sự khác biệt này, tham khảo các Công ước Quốc tế về quyền con người và Hiến pháp của một số quốc gia trên thế giới, Hiến pháp 2013 đã sử dụng từ “mọi người” và từ “không ai” khi thể hiện quyền con người và dùng từ “công dân” khi quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân.

Với bài viết “Sự phát triển, hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp 2013”, tác giả đề cập đến trong phạm vi bài viết điểm mới, điểm phát triển,hoàn thiện về Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân - đây là một phần nội dung trong chương II “Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp 2013:

1. “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được quy định trong chương II, gồm 36 điều, nhiều hơn 2 điều so với Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001). Các điều về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được sắp sếp theo thứ tự: Các Điều ghi nhận nguyên tắc bảo đảm và bảo vệ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở nước ta (từ  Điều 14 đến Điều 17); Các Điều ghi nhận các quyền về dân sự, chính trị của công dân (Điều 22; Điều 23; Điều 25); Điều 26; Điều 27; Điều 28; Điều 29); Các Điều quy định về các quyền về xã hội và văn hóa của công dân (Điều 34; Điều 35; Điều 39; Điều 42); Các Điều quy định về nghĩa vụ của công dân (từ Điều 44 đến Điều 46).

Như vậy, với những nội dung mà Hiến pháp 2013 ghi nhận về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với cách sắp sếp các điều trong chương, có thể thấy quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận và thể hiện một cách đầy đủ, hợp lý và hết sức logic.

 2. Hiến pháp 2013, có điểm mới về vị trí của chương “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và có những điểm mới về cách thức ghi nhận quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:

 - “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” là nội dung thuộc chương II, được đặt trang trọng sau chương I Chế độ chính trị” – đây là điểm khác biệt rất rõ so với Hiến pháp 1992 (Sửa đổi 2001), ở Hiến pháp 1992 (Sửa đổi 2001) thì chương “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” được quy định tại chương V, được đặt sau các chương Chế độ chính trị; Chế độ kinh tế; Văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và chương Bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.  

- Về cách thức ghi nhận quyền công dân, các quy định đã ghi nhận các quyền theo cách: “Công dân có quyền - điều này có nghĩa là bản thân công dân Việt Nam có các quyền mà Hiến pháp xác định, chứ không phải là sự ban phát, trao quyền của cơ quan công quyền.

- Hiến pháp 2013 đã bỏ cách quy định: Quyền con người về chính trị, dân sự và kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân như trong Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi 2001): “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Điểm mới này được quy định ở Hiến pháp 2013 bởi lẽ “quyền con người có nội hàm rộng hơn quyền công dân, không “đánh đồng” quyền con người với quyền công dân. 

 3. Về nội dung Quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân tại chương II của Hiến pháp 2013 có nhiều điểm mới, sửa đổi, bổ sung như sau:

 Sửa đổi, ghi nhận nguyên tắc hạn chế quyền công dân: “Quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” - Điều 14.

 Tại Điều 14 Hiến pháp 2013 cũng đã không viết theo công thức quyền con người thể hiện trong quyền công dân như Điều 50 Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi 2001) nữa. Điều 14 Hiến pháp 2013 đã khắc phục Điều 50 Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi 2001) khi quy định “quyền con người” một khái niệm rộng lớn hơn khái niệm “quyền công dân”.

Khẳng định rõ hơn các nguyên tắc ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền công dân ở Việt Nam Điều 15 và Điều 16. Cũng tại Điều 15, 16 Hiến pháp 2013, sửa đổi Điều 51 và Điều 52 Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi 2001) bằng cách: Mở rộng chủ thể có quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử về mọi mặt thành quyền của mọi người; nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác thành nghĩa vụ của mọi người; chuyển các quy định về trách nhiệm bảo đảm quyền công dân sang các chương khác của Hiến pháp.

Tại  Điều 17 Hiến pháp 2013, sửa đổi, bổ sung Điều 49 Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi 2001) theo hướng khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trước công dân của mình.

Tại Điều 22 Hiến pháp 2013, sửa đổi, bổ sung Điều 62, Điều 73 Hiến pháp năm 1992  (Sửa đổi 2001): Bóc tách riêng quyền có nơi ở, ghi nhận công dân có quyền có nơi ở hợp pháp; mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý; việc khám xét chỗ ở do luật định.

Tại Điều 23 Hiến pháp 2013, sửa đổi, bổ sung Điều 68 Hiến pháp năm 1992  (Sửa đổi 2001): Ghi nhận công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

 Tại Điều 25 Hiến pháp 2013, sửa đổi Điều 69 Hiến pháp năm 1992  (Sửa đổi 2001)  theo hướng khẳng định rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Đây là các quyền không thể tước đoạt của công dân, mặt khác, để công dân có hành lang pháp lý để thực hiện các quyền này thì Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật cần thiết. Chính vì vậy mà Hiến pháp 2013 quy đinh: Việc thực hiện các quyền này (quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình) do pháp luật quy định.

Tại Điều 26 Hiến pháp 2013, sửa đổi, bổ sung Điều 63 Hiến pháp năm 1992  (Sửa đổi 2001): Tiếp tục khẳng định công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt; ghi nhận nguyên tắc bình đẳng giới, không phân biệt đối xử về giới, nghiêm cấm phân biệt đối xử về; đồng thời khẳng định cam kết của Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

Tại Điều 27 Hiến pháp 2013, sửa đổi Điều 54 Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi 2001): Ghi nhận công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân; khẳng định việc thực hiện quyền bầu cử, ứng cử do luật định.

Tại Điều 28 Hiến pháp 2013, sửa đổi, bổ sung Điều 53 Hiến pháp năm 1992  (Sửa đổi 2001) theo hướng ghi nhận đầy đủ hơn quyền tham gia quyền lý nhà nước và xã hội của công dân, đặc biệt ghi nhận việc “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.

Tại Điều 29 Hiến pháp 2013, sửa đổi, bổ sung quy định của Điều 53 Hiến pháp năm 1992  (Sửa đổi 2001), Điều 29 ghi nhận độ tuổi được quyền tham gia biểu quyết: Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Tại Điều 35 Hiến pháp 2013, sửa đổi, bổ sung Điều 55, Điều 56 Hiến pháp năm 1992  (Sửa đổi 2001): Khẳng định quyền làm việc của công dân theo nghĩa đầy đủ của nó, đó là quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Đó là quyền của người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.  Điều 35 nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu. 

Tại Điều 39 Hiến pháp 2013, sửa đổi Điều 59 Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi 2001): Ghi nhận quyền học tập (đồng thời là nghĩa vụ) của công dân. Các vấn đề về đường lối, chính sách giáo dục được đưa sang chương III của Hiến pháp 2013 – Kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường. Đồng thời Hiến pháp 2013 đã bổ sung một số quyền mới của công dân. Đó là các quyền: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34). Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42)…

Về các nghĩa vụ của công dân: Tại Điều 44 Hiến pháp 2013, sửa đổi Điều 76 Hiến pháp 1992 (Sửa đổi 2001): Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44), tiếp tục khẳng định Tội phản bội tổ quốc là tội nặng nhất; Về Nghĩa vụ quân sự của công dân quy định tại Điều 45 cơ bản giữ nguyên nội dung Điều 77 của Hiến pháp 1992 (Sửa đổi 2001); Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng  tiếp tục được quy định tại Điều 46, đồng thời cũng là bước hoàn thiện về vấn đề này so với Điều 79 Hiến pháp 1992 (Sửa đổi 2001).  

4. Đưa các nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân vào các chương khác của Hiến pháp 2013:

Tại Chương I – Chế độ chính trị, Hiến pháp 2013 khẳng định nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” - Khoản 3 Điều 2. Như vậy, với việc Hiến định việc kiểm soát quyền lực, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chính là tạo ra cơ chế ngăn ngừa chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng trong quá quá trình thực hiện quyền lực Nhà nước. Quyền công dân chỉ được bảo đảm, bảo vệ có hiệu quả khi ngăn ngừa, kiểm soát được chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng.

Chương III của Hiến pháp 2013 về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường,  các quy định tại chương này có vai trò rất quan trọng đối với thực hiện quyền công dân. Đây chính là điều kiện để bảo đảm thực hiện quyền công dân: Khoản 3 Điều 51 quy địnhNhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa. Chính sách này của Nhà nước là những bảo đảm kinh tế- pháp lý cho các quyền kinh doanh, quyền tài sản của con mọi người, mọi công dân Việt Nam.

Cũng tại Chương III, Điều 58 quy định: Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Với quy định này đây là quan điểm và là chính sách quan trọng nhằm bảo đảm quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của công dân.

Tại Chương V quy định về Quốc hội, với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất, là cơ quan đại diện cao nhất trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước Việt Nam, với chức năng thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyền quyết định các vấn đề quan trọng nhất của đất nước và quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước  mà Hiến pháp 2013 quy định tại Điều 69, có thể thấy Quốc hội có vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát huy, bảo đảm quyền công dân, điều này thể hiện rõ nét thông qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước ta: Thông qua các đạo luật về quyền công dân, liên quan đến quyền công dân; Giám sát thực hiện quyền công dân; Quyết định các chương trình kinh tế- xã hội lớn bảo đảm quyền công dân… 

Tại chương VII Hiến pháp 2013 quy định về Chính phủ, với tư cách là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”, có thể thấy ngoài việc đóng vai trò quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, quản lý phát triển kinh tế xã hội đất nước, Chính phủ còn thể hiện nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng đối với việc bảo vệ quyền công dân: “Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (khoản 6 Điều 96).

 Liên quan đến vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân còn được quy định tại Chương VIII – Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, theo đó nhiệm vụ bảo vệ quyền công dân được khẳng định là nhiệm vụ của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” - Khoản 3, Điều 102;  Đồng thời, bảo vệ quyền công dân cũng được quy định là nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tại Khoản 3, Điều 107: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Như vậy, với những quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013, có thể nói đây là bản Hiến pháp phát triển, hoàn thiện về vấn đề này, điều đó không những thể hiện ở các nội dung trong chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, mà còn thể hiện trực tiếp thông qua quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là những cơ quan hết sức quan trọng như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Với việc ghi nhận, quy định là một nhiệm vụ hiến định, từ đây, xã hội, nhân dân và tất cả mọi người có quyền đặt ra yêu cầu ngày càng cao hơn đối với các cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ về bảo vệ quyền công dân.

Với những điểm mới, điểm phát triển và hoàn thiện mà tác giả đã trình bày trong bài viết, các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Hiến pháp 2013 đã thực sự là những nội dung thể hiện rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân./.

 Ths. Ngô Hùng Thái - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Giáo dục Lý luận- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Học viện Chính trị khu vự I - Số 226 năm 2015

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi