Một số vướng mắc trong việc xử lý tài sản thi hành án không có người tham gia đấu giá, bán đầu giá không thành

MỘT SỐ VUỚNG MẮC TRONG VIỆC XỬ LÝ TÀI SẢN THI HÀNH ÁN KHÔNG CÓ NGƯỜI THAM GIA ĐẤU GIÁ, BÁN ĐẤU GIÁ KHÔNG THÀNH

                                                    ThS. Nguyễn Thị Phíp

              P.Khoa Đào tạo Chức danh Thi hành án dân sự, Học viện Tư pháp.        

 

Vụ việc

    Tại Bản án dân sự số 100/DSST ngày 20/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện G. tỉnh N. đã tuyên "... Buộc bà Vũ Thị Hoàn phải trả cho ông Nguyễn Văn Hạnh số tiền là 550.000.000đ (Năm trăm năm mươi triệu đồng) tiền vay gốc và tiền lãi là 126.614.000đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 676.614.000đ (sáu trăm bảy mươi sáu triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng). Và tiền án phí bà Vũ Thị Hoàn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 31.064.000 đồng.” Ngày 10/9/2015, ông Nguyễn Văn Hạnh có đơn yêu cầu thi hành án về khoản bà Vũ Thị Hoàn phải trả cho ông 676.614.000 đồng, Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh N. đã ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của ông Hạnh và giao cho Chấp hành viên Trần Thị Mai Hoa tổ chức thi hành theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, Chấp hành viên Trần Thị Mai Hoa cũng đang tổ chức thi hành án Quyết định thi hành án chủ động về khoản bà Vũ Thị Hoàn phải nộp án phí dân sự có giá ngạch là 31.064.000 đồng. Hết thời gian tự nguyện thi hành án bà Hoàn không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên Trần Thị Mai Hoa đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của bà Vũ Thị Hoàn. Được biết hiện bà Hoàn đang sở hữu, sử dụng 01 nhà xây 01 tầng, diện tích xây dựng là 50m2 trên diện tích đất là 70m2 đất tại xóm 10 xã GT, huyện G.  tỉnh N. có giá trị khoảng 700.000.000 đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 0012345 cấp ngày 20/2/2010 của cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ vào Điều 45, 46, 95 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên Mai Hoa đã ra quyết định kê biên, xử lý nhà đất trên của bà Hoàn theo đúng quy định pháp luật. Do bà Hoàn và ông Hạnh không thỏa thuận được giá tài sản kê biên, Chấp hành viên đã ký hợp đồng thẩm định giá với Tổ chức Thẩm định giá M. Tổ chức Thẩm định  giá M. đã tiến hành thẩm định giá nhà đất của bà Hoàn với giá khởi điểm là 760.000.00 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số 138 ngày 25/11/2015 của Giám đốc Tổ chức Thẩm định giá M. Trên cơ sở đó, Chấp hành viên Mai Hoa đã ký hợp đồng bán đấu giá tài sản với Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản tỉnh N. theo đúng quy định pháp luật. Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tỉnh N. đã thông báo bán đấu giá nhà, đất trên. Hết thời gian thông báo, không có người tham gia đấu giá, Chấp hành viên đã thông báo cho bà Hoàn, ông Hạnh về việc không có người tham gia đấu giá và yêu cầu bà Hoàn, ông Hạnh thỏa thuận về mức giảm giá nhà, đất trên. Bà Hoàn, ông Hạnh đã thỏa thuận đề nghị Chấp hành viên giảm 5% giá trị tài sản kê biên. Trên cơ sở biên bản thỏa thuận về mức giảm của đương sự, Chấp hành viên Mai Hoa đã ra quyết định giảm giá 5% giá nhà đất kê biên. Giá khởi điểm của nhà đất sau khi đã giảm còn là: 722.000.000 đồng để tiếp tục bán đấu giá. Quá trình thi hành án tiếp theo, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh N. tiếp tục thực hiện thông báo bán đấu giá nhá đất trên của bà Hoàn với giá khởi điểm là 722.000.000 đồng. Hết thời hạn thông báo bán đấu giá tài sản theo luật định cũng không có người tham gia đấu giá, Chấp hành viên đã thực hiện các thủ tục để giảm giá lần 2 với giá khởi điểm của nhà đất trên còn là 640.000.000 đồng. Trung tâm Dịch vụ Bán đấu giá tài sản tỉnh N. tiếp tục thực hiện việc thông báo bán đấu giá nhà đất trên với giá khởi điểm 640.000.000 đồng, hết thời gian thông báo bán đấu giá cũng không có người đăng ký tham gia đấu giá nhà đất trên. Chấp hành viên Mai Hoa đã làm việc với ông Nguyễn Văn Hạnh. Người được thi hành án về việc nhận tài sản là nhà, đất của bà Hoàn để trừ vào số tiền được thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự cụ thể như sau:

“Từ sau lần giảm thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bản đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án. ”

Ông Nguyễn Văn Hạnh đồng ý nhận nhà đất của bà Hoàn với giá là 640.000.000 đồng để trừ vào số tiền được thi hành án.

Được biết, tại thời điểm ông Hạnh đồng ý nhận nhà, đất của bà Hoàn để trừ vào tiền thi hành án thì bà Vũ Thị Hoàn còn phải thi hành ba khoản: khoản trả cho ông Nguyễn Văn Hạnh với số tiền là 676.614.000 đồng; khoản án phí dân sự là 31.064.000 đồng và khoản chi phí thực tế cho việc kê biên, định giá và bán đấu giá là 15.000.000 đồng nhưng giá trị nhà đất của bà Hoàn chỉ là 640.000.000 đồng. Vì vậy có các quan điểm giải quyết như sau:

Quan điểm thứ nhất: Căn cứ vào khoản 2 Điều 104 Luật Sửa đối, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì Chấp hành viên sẽ thông báo cho bà Vũ Thị Hoàn về việc ông Hạnh đồng ý nhận nhà, đất của bà để trừ vào số tiền được thi hành án. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bà Hoàn nhận được thông báo về việc ông Hạnh đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu bà Hoàn không nộp đủ tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại nhà, đất trên thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng nhà, đất đó cho ông Hạnh. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.

Quan điểm thứ hai: Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo cho bà Hoàn về việc ông Hạnh đồng ý nhận nhà, đất kê biên để trừ vào tiền được thi hành án mà bà Hoàn không nộp đủ tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại nhà, đất trên thì Chấp hành viên căn cứ vào Điều 47 Luật Thi hành án dân sự yêu cầu ông Hạnh - người được thi hành án nộp toàn bộ tiền án phí 31.064.000 đồng; 15.000.000 đồng chi phí về thi hành án đã phát sinh cho cơ quan thi hành án và khoản tiền thuê nhà một năm cho bà Hoàn quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự vi đây là nhà ở duy nhất của bà Hoàn thì chấp hành viên mới ra quyết định giao nhà, đất cho ông Hạnh và tổ chức giao nhà, đất cho ông Hạnh. Trường hợp ông Hạnh không nộp các khoản tiền trên (gồm tiền án phí; các chi phí về thi hành án và khoản thuê nhà cho bà Hoàn) thì cơ quan thi hành án tiếp tục giảm giá, bán đấu giá nhà, đất của bà Hoàn để thi hành án.

Ý kiến đánh giá, nhận xét

Đối với quan điểm thứ nhất, tác giả cho rằng Chấp hành viên đã thực hiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự nhưng vấn đề đặt ra khoản tiền chi phí về thi hành án mà cơ quan thi hành án án đã tạm ứng chi và khoản tiền cho bà Hoàn thuê nhà ở trong một năm thì sẽ được giải quyết như thế nào. Nếu không có tiền trả cho bà Hoàn để thuê nhà ở thì Cơ quan Thi hành án có tổ chức cưỡng chế giao nhà đất của bà Hoàn cho ông Hạnh được không? Nếu Cơ quan Thi hành án tổ chức giao nhà, đất cho ông Hạnh theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự khi chưa trả tiền cho bà Hoàn thuê nhà ở thì có trái với khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự không? Và khoản tiền chi phí phí cưỡng chế thi hành án, khoản án phí mà bà Hoàn phải nộp cho ngân sách nhà nước nếu ông Hạnh không nộp trước khi được nhận nhà, đất của bà Hoàn thì Cơ quan Thi hành án sẽ không bao giờ thu được và chắc chắn các khoản thu này sẽ đưa vào diện án chưa có điều kiện thi hành án theo Điều 44a Luật Thi hành án dân sự. Như vậy, nếu giải quyết theo quan điểm thứ nhất thì cũng gặp một loạt vướng mắc trong công tác thi hành án và các khoản ưu tiên như tiền án phí, chi phí cường chế cũng không được giải quyết theo quy định của Điều 47 Luật Thi hành án dân sự..

Trên thực tiễn, khi gặp tình huống này một số cơ quan thi hành án đã động viên thuyết phục người được thi hành án nộp cho cơ quan thi hành án các khoản chi phí cưỡng chế, chi phí thuê nhà theo quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự và khoản án phí rồi cơ quan thi hành án mới tổ chức giao tài sản cho người được thi hành án. Nhưng cũng có một số trường hợp Chấp hành viên không thể thuyết phục người được thi hành án nộp các khoản tiền trên vì người được thi hành án căn cứ vào khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự và họ kiên quyết không chịu nộp các khoản tiền đó vì pháp luật không quy định việc họ phải nộp các khoản tiền đó trước khi họ được nhận tài sản của người phải thi hành án. Nếu chấp hành viên không giao tài sản đó cho người được thi hành án, họ sẽ khiếu nại chấp hành viên. Trường hợp chấp hành viên tiến hành giao tài sản cho người được thi hành án theo khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự thì cũng rất nhiều khả năng người phải thi hành án chống đối và khiếu nại vì họ không còn tiền để thuê chỗ ở mới và không còn chỗ ở nào khác.

Đối với quan điểm giải quyết thứ hai: Theo bản án dân sự số 100/DSST ngày 20/07/2015 của Tòa án nhân dân huyện G. tỉnh N. bà Hoàn có nghĩa vụ thi hành án 02  khoản: Khoản án phí và khoản trả cho ông Hạnh nhưng tại thời điểm ông Hạnh đồng ý nhận nhà, đất để trừ vào tiền được thi hành án thì bà Hoàn còn có nghĩa vụ phải nộp toàn bộ các chi phí về thi hành án đã phát sinh theo khoản 1 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự và khoản tiền để bà Hoàn thuê nhà ở phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong một năm theo quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự vì đây là nhà ở duy nhất của bà Hoàn. Căn cứ Điều 47 Luật Thi hành án dân sự quy định về thứ tự thanh toán như sau:

"…Số tiền thi hành án sau khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự thì được thanh toán theo thứ tự sau đây:

Tiền cấp dưỡng, tiền lương, tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mật việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe, tổn thất về tinh thần

 Án phí, lệ phí Tòa án

Các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định..."

Theo quy định trên thì số tiền thu được sẽ được thanh toán theo thứ tự sau:

Thứ nhất, là các chi phí về thi hành án đã phát sinh như chi phí cho việc kê biên, định giá, thông báo bán đấu giá...

Thứ hai, tiền thuê nhà cho bà Hoàn theo quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự.

Thứ ba, số tiền còn lại sẽ thanh toán cho ông Hạnh.

Vì vậy, ông Hạnh muốn được nhận nhà, đất của bà Hoàn với giá 640.000.000 đồng thì ông Hạnh phải nộp cho cơ quan thi hành án khoản án phí, chi phí cưỡng chế của bà Hoàn và khoản tiền cho bà Hoàn thuê nhà ở. Trường hợp ông Hạnh không nộp các khoản tiền này thì cơ quan thi hành án không đồng ý giao nhà, đất của bà Hoàn cho ông Hạnh để trừ vào tiền được thi hành án mà tiếp tục thực hiện việc giảm giá nhà, đất của bà Hoàn để tiếp tục bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Như vậy, quan điểm giải quyết thứ hai đã căn cứ vào khoản 2 Điều 104 và Điều 47 Luật Thi hành án dân sự để giải quyết. Tác giả cho rằng quan điểm giải quyết này giúp cho cơ quan thi hành án nói chung, chấp hành viên nói riêng giải quyết tốt loại án chủ động và thu được tiên chi phí cưỡng chế cũng như khoản tiền cho bà Hoàn thuê nhà ở phù hợp với Điều 47 và khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự. Nhưng Điều 47 Luật Thi hành án dân sự chỉ đề cập đến việc thanh toán tiền khi thu được tiền của người phải thi hành án và khoản 5 Điều 115 cũng chỉ đề cập đến việc để lại khoản tiền thuê nhà cho người phải thi hành án khi bán đấu giá nhà ở duy nhất của người phải thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới. Mặt khác khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự cũng chi quy định người được thi hành án có quyền được nhận tài sản của người phải thi hành án khi không có người tham gia đấu giá, trả giá mà không quy định nghĩa vụ của người được thi hành án phải nộp các khoản chi phí phát sinh, án phí... trước khi được nhận tài sản của người phải thi hành án. Vì vậy nếu chấp hành viên giải quyết theo quan điểm thứ hai thì sẽ dẫn đến việc khiếu nại khá gay gắt của người được thi hành án. Vì ông Hạnh cho rằng việc ông nhận nhà đất của bà Hoàn do không có người tham gia đấu giá để trừ vào tiền thi hành án còn chưa đủ nghĩa vụ của bà Hoàn nên ông không nộp bất kỳ khoản tiền nào của bà Hoàn mà chỉ yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức giao nhà, đất của bà Hoàn cho ông theo đúng quy định pháp luật.

Rõ ràng qua phân tích các điều luật trên có thể thấy quy định của các điều luật tại khoản 2 Điều 104 và khoản 1 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự chưa có sự thống nhất làm cho các chấp hành viên rất khó khăn trong việc áp dụng các điều luật. Việc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các chấp hành viên nói riêng và hiệu quả của công tác thi hành án dân sự nói chung.

Kiến nghị

Từ thực tiễn giải quyết tình huống trên, từ phân tích các quan điểm giải quyết tình huống trên tác giả cho rằng: Để tạo hành lang pháp lý cho cơ quan thi hành án dân sự nói chung, chấp hành viên nói riêng, đặc biệt để hạn chế việc khiếu nại, tố cáo từ phía các đương sự tác giả kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền sớm sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn chi tiết việc thực hiện khoản 2 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự theo hướng “Khi nhận tài sản người được thi hành án phải thanh toán các khoản ưu tiên thanh toán được quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự.” có như vậy thì khoản 2 Điều 104 và Điều 47 Luật Thi hành án dân sự mới có tính logic và thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự./.                    

                                 Nguồn: Tạp chí Nghề luật, số tháng 5/2016, Tr.46-49.           

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi