Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về hủy phán quyết trọng tài thương mại và một số giải pháp khắc phục.

KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC.

                                                                             TS.Vũ Thị Hồng Vân

                                                P.Hiệu trưởng trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

  1. Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về hủy phán quyết trọng tài

Theo Luật TTTM quy định về hủy phán quyết trọng tài khá chặt chẽ và cụ thể, các quy định về trọng tài nói chung và hủy phán quyết trọng tài nói riêng theo Luật TTTM tương đối tiến bộ và phù hợp hơn với Luật TTTM của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, từ sau khi Luật TTTM có hiệu lực, số phán quyết trọng tài bị Tòa án quyết định hủy đột nhiên tăng vọt. Từ năm 2011 - 2013 số phán quyết trọng tài không bị hủy chỉ chiếm 64% và số phán quyết trọng tài bị hủy chiếm 36%, tăng 11% so với giai đoạn trước. Trong đó, chỉ riêng tháng 11 năm 2012 Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) có tới 3 phán quyết trọng tài bị huỷ, tương đương với số phán quyết bị hủy của cả 8 năm trước đó cộng lại. Năm 2013, Trọng tài ở VIAC giải quyết 99 vụ, năm 2014 tăng lên 124 vụ, trong đó 41% là vụ việc có yếu tố nước ngoài. Các tranh chấp chủ yếu là mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Đặc biệt có những vụ việc mới về năng lượng, tài chính, phân phối, tranh chấp của các tập đoàn lớn và cả cơ quan quản lý nhà nước cũng đưa ra trọng tài giải quyết[1].

Thực tế số phán quyết trọng tài bị hủy có thể còn nhiều hơn con số thống kê bởi vì có một số phán quyết trọng tài bị hủy mà VIAC không biết do không được thông báo. Việc số lượng phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên hủy tăng khá nhiều khiến cho không chỉ cộng đồng doanh nghiệp hoang mang mà ngay chính các Trọng tài viên cũng “đứng ngồi không yên”. Bởi tình trạng phán quyết trọng tài bị hủy diễn ra quá nhiều, nhiều Trọng tài viên lo lắng việc “xử mà không biết phán quyết có bị hủy hay không”. Đây là một hiện tượng khá bất thường, vì Luật TTTM ra đời là để tạo hành lang pháp lý để phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phát triển nhưng thực tế lại cho thấy một xu hướng ngược lại do số phán quyết trọng tài lại bị tuyên hủy nhiều hơn so với giai đoạn trước.

Thực tiễn, hai căn cứ thường được Tòa án viện dẫn để hủy phán quyết trọng tài là căn cứ tại điểm b và điểm đ Điều 68 Luật TTTM, đó là: Thành phần hội đồng trọng tài, th tục t tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này;  Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Phạm vi của hai căn cứ này tương đối rộng, do đó, khi giải quyết Hội đồng trọng tài rất dễ vi phạm. Chỉ cần mắc lỗi nhỏ như ngôn ngữ không tuân theo thỏa thuận của các bên hay đơn vị tiền tệ ghi trong phán quyết trọng tài không chính xác cũng rất dễ trở thành căn cứ để Tòa án ra quyết định hủy. Đặc biệt, mặc dù Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 20/3/2014 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật TTTM (Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP) đã có giới hạn phạm vi đối với căn cứ "Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” nhưng Tòa án vẫn thường dựa vào căn cứ này để ra quyết định hủy phán quyết trọng tài. Việc phán quyết trọng tải bị hủy quá nhiều khiến cho cộng đồng doanh nghiệp thực sự hoang mang, thiếu sự tin cậy vào việc lựa chọn trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp. Một nghiên cứu khảo sát của VIAC năm 2014 cho thấy chỉ có 36,7% số doanh nghiệp khảo sát lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, và trong số đó chỉ có 12% lựa chọn VIAC[2].

Vậy khó khăn, vướng mắc ở đâu. Có thể nhận thấy, do quy định về hủy phán quyết trọng tài chứa đựng khá nhiều điểm chưa rõ ràng, chặt chẽ, có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, khiến cho việc áp dụng thực sự tùy tiện và hậu quả là dẫn đến tình trạng phán quyết trọng tài bị hủy nhiều. Các căn cứ hủy phán quyết trọng tài được quy định tại Khoản 2 Điều 68 Luật TTTM tuy không phải nhiều nhưng lại tương đối rộng và không rõ ràng khiến cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài dễ dàng được chấp nhận khi bên yêu cầu đưa ra được căn cứ hợp lý, phù hợp với trường hợp phán quyết bị hủy theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, thủ tục tuyên bố hủy quyết định trọng tài cũng có vấn đề cần bàn:

Thứ nhất, căn cứ “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tc cơ bn của Pháp luật Việt Nam” được quy định quá chung chung, không rõ ràng nên việc áp dụng một cách tùy tiện là không thể tránh khỏi. Hiện nay, gần như trong các Bộ luật, Luật ở nước ta đều có những quy định về “nguyên tắc”, vì thế bên yêu cầu có thể dễ dàng viện dẫn phán quyết trọng tài “trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” và đưa ra giải thích hợp lý, Tòa án sẽ căn cứ vào đó để ra quyết định hủy phán quyết trọng tài. Thực tiễn giải quyết tranh chấp những năm qua cho thấy số phán quyết trọng tài bị hủy vì lí do này là không nhỏ. Mặc dù, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP đã có hướng dẫn cụ thể về căn cứ này, "Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định được phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật nguyên tắc đó có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài ”[3], nhưng trên thực tế việc tòa căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 68 để hủy phán quyết trọng tài mà không nêu rõ phán quyết sai chỗ nào, vi phạm nội dung cụ thể ra sao là không thuyết phục và đó là tình trạng vẫn rất phổ biến.

Thứ hai, một trong những căn cứ khác cũng thường được viện dẫn để hủy phán quyết trọng tài đó là "...thủ tục t tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận ca các bên hoặc trái với các quy định của Luật này". Rõ ràng trong quá trình tiến hành giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài sẽ phải tiến hành rất nhiều thủ tục tố tụng nên việc mắc những sai sót là rất khó tránh khỏi. Và thực tế việc phán quyết trọng tài bị Tòa án hủy gần đây, không phải vì nội dung phán quyết trọng tài có “vấn đề” mà vì những lý do liên quan đến thủ tục tố tụng. Chẳng hạn, có trường hợp phán quyết trọng tài bị hủy chỉ vì hội đồng trọng tài dùng ngôn từ mang tính chất... “thân thiện” trong thông báo mời họp. Theo đó, Tòa án cho rằng thông báo mời họp gửi các đương sự phải ghi chữ “triệu tập”, trong khi hội đồng trọng tài lại ghi chữ “mời” là sai, vì “mời” thì đương sự có thể đến hoặc không đến[4]. Hay những sai sót đơn giản như việc ghi sai đơn vị tiền tệ hoặc những lỗi nhỏ trong hình thức trình bày cũng dễ dàng bị Tòa án tuyên hủy.

Về căn cứ này, Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP cũng có hướng dẫn cụ thể tại Điều 14. Theo đó, Tòa án sẽ chỉ ra quyết định, hủy phán quyết trọng tài khi xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án quy định tại Khoản 7 Điều 71 Luật TTTM. Tuy nhiên, với việc giới hạn phạm vi này có giúp hạn chế tình trạng phán quyết trọng tài bị hủy (vì căn cứ này) hay không thì lại cần phải chờ quá trình áp dụng.

Thứ ba, đối với căn cứ hủy phán quyết trọng tài do “không có thỏa thuận trọng tài” cũng gặp rất nhiều bất cập. Việc xác định có hay không có thỏa thuận trọng tài trên thực tế không phải lúc nàò cũng dễ dàng, đồng thời pháp luật lại không có quy định cụ thể về vấn đề này khiến cho nhiều phán quyết trọng tài bị hủy vì Tòa án cho rằng “không có thỏa thuận trọng tài”.

Thứ tư, về thủ tục hủy quyết định trọng tài. Ngoài những bất cập trong các quy định về căn cứ hủy phán quyết trọng tài thì có một sự bất cập trong thủ tục hủy quyết định trọng tài, theo khoản 10 Điều 71 thì quyết định hủy phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng có hiệu lực thi hành. Nghĩa là, đối với quyết định của Tòa án về hủy phán quyết trọng tài, các bên hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, các đương sự không có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị. Quy định này đã thực sự hợp lý? Bởi nếu quy định như vậy, trong trường hợp quyết định của Tòa án có vi phạm hoặc chưa thỏa đáng thì sẽ không có phương án xử lý, gây ảnh hưởng lớn tới quyền lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp.

Thực trạng trên đặt ra một câu hỏi là nguyên nhân nào khiến cho tình trạng phán quyết trọng tài bị hủy tăng vọt, trong khi các quy định về hủy phán quyết trọng tài được đưa ra trong Luật TTTM và Nghị quyết 01/HĐTP/NQ-HĐTP là nhằm hạn chế tình trạng hủy phán quyết trọng tài?

  1. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hủy quyết định trọng tài

2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hủy phán quyết trọng tài

         Thứ nht, về các căn cứ hủy phán quyết trọng tài cần có những quy định cụ thể để khắc phục tình trạng các bên đã lạm dụng tính chung chung, không minh bạch, không cụ thể rõ ràng của các căn cứ này để đưa ra yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Đối với “phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, Nghị định dù đã đưa ra phạm vi căn cứ là những nguyên tắc liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của trọng tài nhưng thực tế Tòa án vẫn thường viện dẫn căn cứ này để hủy phán quyết trọng tài. Do đó, cần thu hẹp hơn phạm vi cùa căn cứ này bằng việc quy định thế nào là nguyên tắc liên quan đến việc giải quyết tranh chấp trọng tài? Những quy định nào được xem là liên quan đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài? Hoặc giới hạn những nguyên tắc đó thuộc Bộ luật Dân sự hay luật nào? Hoặc có thể liệt kê cụ thể một số nguyên tắc liên quan đến trọng tài.

Thứ hai, về vấn đề quyết định hủy phán quyết trọng tài có nên được giám đốc thẩm hay không. Có ý kiến cho rằng, nên quy định quyết định trọng tài có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Ý kiến này dựa trên thực tế đang xảy ra là có nhiều trường hợp Tòa án đưa ra quyết định hủy phán quyết trọng tài nhưng không đưa ra được lý do hợp lý hoặc đưa ra những lý do không phù hợp nhưng do quy định của pháp luật trọng tài thương mại hiện hành thì các bên tranh chấp, hội đồng trọng tài đều không có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị. Hậu quả là quyền, lợi ích hợp pháp của các bên không được bảo đảm, mặt khác tạo sự tùy tiện trong việc hủy phán quyết trọng tài của Tòa án. Theo chúng tôi, tới đây cần chỉnh sửa quy định theo hướng cho phép giám đốc thẩm quyết định của Tòa án để tránh trường hợp Tòa án tùy tiện hủy phán quyết của trọng tài. Trong khi chưa sửa đổi quy định, giải pháp tình thế từ kinh nghiệm của nước ngoài là: Khi được yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án tỉnh phải báo cáo lên Tòa án tối cao và đề xuất hướng xử lý của mình để Tòa án tối cao thẩm định. Tòa án tối cao trả lời thế nào thì Tòa án tỉnh giải quyết thế đó. Cách này có thể hạn chế sự tùy tiện, không thống nhất của các Tòa án tỉnh (PGS.TS Đỗ Văn Đại).

Thứ ba, đề xuất việc bỏ quy định tại khoản 8 Điều 71 Luật TTTM, "Trường hợp Hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định hủy phán quyết trọng tài, các bên có thể thỏa thuận lại để đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại Trọng tài hoặc một bên có quyền khởi kiện tại Tòa án"[5] . Thực tế, sau khi phán quyết trọng tài bị hủy thì các bên không có thỏa thuận lại nên tranh chấp buộc phải chuyển sang Tòa án. Ở các nước, dù phán quyết trọng tài có bị Tòa án hủy đi chăng nữa thì khi thỏa thuận trọng tài không bị vô hiệu nó vẫn tồn tại giữa các bên về việc dùng trọng tài giải quyết tranh chấp. Vì vậy sau đó vụ tranh chấp đó vẫn được quay trở lại cho trọng tài giải quyết với trình tự mới. Hướng giải quyết này là hợp lý và hạn chế được việc một bên tìm cách hủy phán quyết trọng tài để chuyển sang tố tụng Tòa án.

2.2.                     Giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật về hủy phán quyết trọng tài

2.2.1. Nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán và Trọng tài viên

a)  Về phía Thẩm phánTòa án nhân dân

Thứ nht, các Thẩm phán cần phải nắm vững và hiểu đúng các quy định về trọng tài để tránh xảy ra những vụ việc thụ lý sai hoặc hủy phán quyết một cách đáng tiếc. Vì thế bản thân mỗi Thẩm phán cũng cần tự trau dồi kiến thức liên quan đến thủ tục tố tụng trọng tài, để khi xét đơn hủy phán quyết trọng tài không gặp phải những khó khăn và đưa ra những quyết định không đúng. Để giúp Thẩm phán nắm vững và hiểu đúng các quy định của pháp luật liên quan đến hủy phán quyết của trọng tài thì việc tập huấn kiến thức cho Thẩm phán là vấn đề hết sức quan trọng. Vì vậy, trong tương lai, trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam phải phối hợp với Tòa án nhân dân để tổ chức cuộc tập huấn này.

Thứ hai, các Thẩm phán cũng cần nhận thức được hậu quả tiêu cực của quyết định hủy phán quyết trọng tài mà mình đưa không chính xác. Quyết định hủy này không chỉ ảnh hưởng đến các bên tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến uy tín và cuối cùng là sự phát triển của nền trọng tài nước ta. Trong quá trình hội nhập, rất nhiều các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước ta và các doanh nghiệp nước ngoài thường có thói quen chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp. Việc hủy phán quyết của trọng tài một cách tùy tiện thì doanh nghiệp nước ngoài sẽ chọn trọng tài nước ngoài để giải quyết. Khi đó doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải tốn kém tiền bạc đi lại, phiên dịch, thuê Luật sư thiệt hại rất lớn.

Thứ ba, để giúp các Thẩm phán thực hiện tốt vai trò của mình, Tòa án nhân dân tối cao cần tổ chức các hội nghị tổng kết, sơ kết công tác ngành, trong đó, cần dành thời gian hợp lý để nghiên cứu kĩ năng xét đơn hủy phán quyết trọng tài, làm rõ trường hợp nào thì nên đưa ra phán quyết hủy và trường hợp nào thì nên tạo điều kiện cho các bên khắc phục, tránh tình trạng phán quyết bị hủy nhiều như trong thời gian qua.

Thứ tư, Tòa án cần đề cao chế độ trách nhiệm cá nhân đối với từng chức danh cán bộ, công chức, đặc biệt là người đứng đầu Toà án và Thẩm phán, tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm minh đối với các tập thể và cá nhân, công chức của Toà án có vi phạm. Các trường hợp vi phạm pháp luật, phẩm chất đạo đức cần phải xử lí nghiêm minh.

b)   Về  phía Trọng tài viênTrung tâm trọng tài

Các Trọng tài viên cần nhận thức được rằng việc phán quyết trọng tài được thi hành hay bị hủy phụ thuộc rất nhiều vào năng lực nghề nghiệp của hội đồng trọng tài. Nếu hội đồng trọng tài thực hiện đúng thẩm quyền của mình và thực hiện theo đúng thỏa thuận hay quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng thì bên thua kiện sẽ rất khó để tìm ra chứng cứ để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, trên thực tế, các Trọng tài viên vẫn thường mắc phải những sai sót trong quá trình tiến hành tố tụng, vi phạm các thủ tục tố tụng không đáng có khiến cho phán quyết trọng tài bị hủy. Do đó, để hạn chế những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp, mỗi Trọng tài viên cần phải:

Th nhất, tự trau dồi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình, đặc biệt là nắm vững không chỉ các quy định của pháp luật nội dung mà cả những trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng khi giải quyết những tranh chấp đó. Các Trọng tài viên cần nhận thức rằng việc đưa ra phán quyết không chính xác, bị Tòa án hủy không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của chính bản thân mình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền trọng tài nước ta.

Thứ hai, các trung tâm Trọng tài cần thường xuyên mở các lớp đào tạo kĩ năng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và đưa ra những chương trình đào tạo vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính khuyến khích các Trọng tài viên theo học. Đồng thời, trong việc đào tạo kĩ năng Trọng tài viên, các trung tâm trọng tài cần mời những Trọng tài viên uy tín, tên tuổi hoạt động lâu năm hoặc những Trọng tài viên nước ngoài trao đổi kinh nghiệm. Như vậy, việc đào tạo sẽ đạt được hiệu quả cao hơn. Có thể nói, việc đào tạo để nâng cao trình độ quản lý và xây dựng đội ngũ Trọng tài viên chuyên nghiệp sẽ là yếu tố quyết định sự phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nước ta.

Thứ ba, tăng cường đào tạo, tuyển dụng các Trọng tài viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Bởi trong quá trình hội nhập kinh tế, có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước ta. Do đó, đối với những tranh chấp mà một bên là doanh nghiệp nước ngoài, khi thỏa thuận lựa chọn trung tâm trọng tài nước ta là nơi giải quyết tranh chấp, họ thường thỏa thuận ngôn ngữ tiến hành tố tụng là tiếng Anh. Việc các Trọng tài viên sử đụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, sẽ giúp họ chủ động hơn khi giải quyết những tranh chấp, tránh những sai sót không đáng do hạn chế về ngôn ngữ gây ra.

Thứ tư, việc thu hút, tuyển dụng Trọng tài viên nước ngoài cũng cần được chú trọng, bởi vì sự tham gia của Trọng tài viên nước ngoài sẽ góp phần hỗ trợ nâng cao uy tín và chất lượng xét xử của trọng tài Việt Nam, nhất là các vụ tranh chấp mà một bên là doanh nghiệp nước ngoài.

Thứ năm, các trung tâm trọng tài cần chủ động phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác như cơ quan Tòa án, cơ quan thi hành nhằm đảm bảo phán quyết của trọng tài được thi hành đúng quy định của pháp luật.

Thứ sáu, các Trọng tài viên phải thực hiện tốt quy tắc đạo đức nghề nghiệp của mình, đó là trung thực, vô tư, độc lập, bí mật, cần mẫn và công khai. Khi giải quyết tranh chấp phải chí công, vô tư, minh bạch, không có bất kì hành vi nhận hối lộ hoặc sử dụng chức quyền làm sai lệch kết quả vụ việc. Đồng thời các Trọng tài viên phải có lối sống văn minh, lành mạnh, luôn tự mình phấn đấu rèn luyện không ngừng. Các trung tâm trọng tài phải có ban kiểm tra, giám sát và xử lí nghiêm minh đối với những Trọng tài viên vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng chức quyền mưu lợi cho bản thân.

2.2.2. Tăng cường vai trò của Tòa án trong việc hễ trợ hoạt động của trọng tài

Một trong những điểm ưu việt của tố tụng trọng tài so với tố tụng Tòa án là tính linh hoạt, nhanh gọn, thân thiện và hiệu quả. Nếu Tòa án áp dụng các quy định của tố tụng dân sự để xem xét và giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của trọng tài, trong có việc hủy phán quyết trọng tài thì sẽ làm mất đi những ưu điểm vốn có của tố tụng trọng tài.

Hệ thống Tòa án cần phát huy và thể hiện rõ sự ủng hộ với hệ thống trọng tài, từ chối hủy các phán quyết trọng tài trừ khi rõ ràng có vi phạm được quy định cụ thể trong Luật TTTM. Đây là một đòi hỏi hết sức quan trọng. Toàn bộ quá trình trọng tài có thể mất ý nghĩa nếu như một phán quyết có thể bị hủy tại Tòa án vi những lý do hết sức kỹ thuật, không được quy định cụ thể trong Luật TTTM. Kinh nghiệm ở các nước có sự phát triển của trọng tài như Singapore hay Anh cho thấy Tòa án chỉ can thiệp vào tốtụng trọng tài hoặc hủy phán quyết trọng tài trong những trường hợp hết sức đặc biệt. Ví dụ như có vi phạm nghiêm trọng trong tố tụng, thiên vị với một bên, không cho một bên cơ hội trình bày, lập luận hoặc những trường hợp phán quyết vi phạm những nguyên tắc căn bản của xã hội như buộc các bên phải thi hành những việc làm phi pháp, sai trái mà xã hội không thể chấp nhận. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam vẫn cho thấy Tòa án chưa thực sự có một chính sách quan điểm thống nhất ủng hộ mạnh sẽ hoạt động trọng tài. Một số trường hợp phán quyết bị hủy vì những lý do mang nặng tính kỹ thuật hoặc các lý do rất chung chung như “không tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” mà không nêu cụ thể nguyên tắc đó là nguyên tắc nào và bị vi phạm như thế nào.

Do vậy, trừ khi phán quyết trọng tài có sai lầm trong việc áp dụng luật nội dung hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đến mức có thể làm sai lệch bản chất vụ việc thi Tòa án mới nên hủy phán quyết đó. Tòa án không nên căn cứ vào những tiểu tiết về thủ tục để hủy phán quyết trọng tài một cách tùy tiện. Các quy định về trọng tài nói chung và hủy phán quyết trọng tài nói riêng theo Luật TTTM tương đối tiến bộ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các quy định về hủy phán quyết trọng  tài vẫn còn những điểm thiếu sót hoặc bất cập đòi hỏi phải tiếp tục được hướng dẫn và giải thích một cách cụ thể đế tránh sự hiểu nhầm, gây khó khăn trong việc áp dụng. Bên cạnh đó, nhận thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán và Trọng tài viên còn nhiều hạn chế, khiến cho nhiều phán quyết trọng tài bị hủy vì những lý do không đáng có. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán và Trọng tài viên là một trong yêu cầu cấp bách, cần phải thực hiện trong thời gian tới./.

                                       Nguồn: Tạp chí Nghề luật, số tháng 5/2016, Tr.72-77.

 

[1] Mối lo hủy phán quyết Trọng tài - Tọa đàm "Hủy phán quyết trọng tài" do Trường ĐH Luật TP.HCM, TAND TP.HCM, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam -VIAC tổ chức vào ngày 20-1

[2] Đặng Xuân Hợp, 2014, “Một vài nét tổng quan về trọng tài thươmg mại tại Việt Nam”, tham luận trình bày tại hội thảo biện pháp giài quyết tranh chấp ngoài Tòa án trong hệ thống tư pháp

[3] Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, 2014, Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20/3/2014 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật TTTM

[4] Quốc hội, 2003, Pháp lệnh Trọng tài thương mại

[5] Quyết định số 01/2003/QĐ-HĐQTT  ngày 26/03/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi