Giá trị của phán quyết vụ Đảo Palmas (Miangas) – liên hệ với quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Phạm Vũ Thắng – Thanh tra VKSND tối cao

Theo Điều 38 Quy chế Toà án công lý quốc tế thì các nghị quyết xét xử và các luận thuyết của các chuyên gia pháp lý được coi là các phương tiện bổ trợ để xác định các tiêu chuẩn pháp lý”[[1]]. Phán quyết của Trọng tài thường trực quốc tế La Hay về vụ đảo Palmas từ năm 1928, nhưng giá trị của nó có ý nghĩa trong việc minh chứng chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

1. Sơ lược về vụ kiện

Đảo Palmas theo tên gọi của Hoa Kỳ hoặc Miangas theo tên gọi của Hà Lan, là một hòn đảo nhỏ, cách khoảng 50 dặm về phía đông nam Cape San Augustin (Mindanao) khoảng 05035vĩ Bắc, 126036kinh Đông. Ngày nay còn được biết đến với tên gọi khác là đảo Pula Miangas, một bộ phận lãnh thổ nước Cộng hòa Indonesia. Hòn đảo này chủ yếu là đồng bằng, cao khoảng 1,5 mét trên mực nước biển. Có chiều dài 2 dặm, chiều rộng 0,75 dặm. Tính đến 2009, dân số trên đảo khoảng 680 người[[2]].

Ngược dòng thời gian về đầu thế kỷ trước, hòn đảo Palmas (Miangas) là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Hoa Kỳ và Hà Lan. Hồ sơ vụ kiện thể hiện [[3]] ngày 21/01/1906, Tướng Leonard Wood đã tiếp xúc lần đầu tiên với hòn đảo. Tướng Wood đã gửi báo cáo với Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ và dẫn đến tuyên bố rằng đảoPalmas (hay Miangas) nằm trong quần đảo Philippines, được phân định tại ĐiềuIII của Hiệp ước hòa bình giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha ngày 10/12/1898 (Hiệp ước Paris). Nhưng thời điểm này đảo Palmas (Miangas) cũng đang được Hà Lan coi như một phầnlãnh thổ thuộc sở hữu của họ.

Những bất đồng giữa hai bên dẫn đến ngày23/01/1925, Hoa Kỳ và Hà Lan ký một Hiệp định đặc biệt về việc đệ trình tranh chấp ra Trọng tài thường trực quốc tế La Hay. Tại Điều I của Hiệp định quy định Trọng tài sẽ gồm một trọng tài viên có nhiệm vụ duy nhất là quyết địnhrằng toàn bộ đảo Palmas(hay Miangas) thuộc một phần lãnh thổhoặc của Hoa Kỳ hoặc của Hà Lan. Trọng tài Max Huber được ủy nhiệm làm Trọng tài viên duy nhất theo Hiệp định đặc biệt ngày 23/01/1925.

Các bên đã đệ trình lên Trọng tài Bị vong lục, Phản bị vong lục, các bản giải trình, kèm theo 53 bản đồ, các phác thảo vàcác bức ảnh chụp lại, Hải đồ Hải quân Anh 2575, 06 bản sao của thư tín ngoại giao.

Lập luận của Hoa Kỳ dựa trên 3 căn cứ là xuất phát từ điều ước quốc tế về chuyển nhượng lãnh thổ, tính kề cận địa lý và bằng chứng từ những tấm bản đồ. Họ cho rằng chủ quyền của họ dựa trên danh nghĩa chuyển nhượng theo các điều ước quốc tế. Cụ thể là Hiệp ước Münster năm 1648 ký kết giữa Tây Ban Nha và Hà Lan và Hiệp ước Pais 1898 giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ. Do Tây Ban Nha là nước đầu tiên phát hiện đảo Palmas. Điều 5 của Hiệp ước Münster ngày 30/01/1648 ký giữa Tây Ban Nha và Hà Lan đã xác định Tây Ban Nha có chủ quyền đối với Philippines bao gồm cả Palmas (Miangas). Tiếp đó Hiệp ước Paris ngày 10/12/1898 về việc chấm dứt chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ đã quy định tại Điều 3 rằng Tây Ban Nha chuyển nhượng Philippiness cho Hoa Kỳ. Cho nên Hoa Kỳ có chủ quyền đương nhiên đối với đảo Palmas (Miangas). Ngoài ra Hoa Kỳ còn viện dẫn nguyên tắc contiguity (tiếp giáp, kề cận địa lý) rằng Palmas (Miangas) tạo thành một phần địa lý của quần đảo Philippines và xuất phát từ nguyên tắc kề cận nên thuộc về nước có chủ quyền đối với Philippines. Cuối cùng Hoa Kỳ đưa ra nhiều tấm bản đồ để chứng minh chủ quyền của họ trên đảo tranh chấp.

Hà Lan viện dẫn chủ quyền dựa trên việc quản lý của nhà nước một cách thực tế trong hòa bình và liên tục. Lý lẽ chính của Hà Lanluôn cố gắng chỉ ra rằng Hà Lan được Công ty Đông Ấn đại diện cho mục đích của họ trong giai đoạn đầu tiên thuộc địa, đã sở hữu và thực thi chủ quyền từ năm 1677, hoặc có thể là từ một ngày trước sự kiện năm 1648 (Hiệp ước Münster). Chủ quyền này phát sinh từ Hiệp ước gia nhập với các Hoàng tử bản địa đảo Sangi, thiết lập quyền thống trị của Hà Lan trên lãnh thổ của các hoàng tử này, bao gồm cả Palmas (hay Miangas).

Như đã thấy, sau ba năm xét xử, ngày 04/4/1928 Trọng tài đã ra phán quyết đảo Palmas (Miangas) thuộc chủ quyền của Ha Lan[[4]].

2. Những giá trị rút ra từ phán quyết của Trọng tài

Qua bản phán quyết của Trọng tài, chúng ta rút ra ba giá trị quan trọng đó là: nguyên tắc luật đương đại, nguyên tắc chiếm hữu thật sự và giá trị của bản đồ. Cụ thể như sau:

2.1. Nguyên tắc luật đương đại và nguyên tắc chiếm hữu thật sự

Trọng tài đã phân tích các bằng chứng được các bên đệ trình và công nhận Tây Ban Nha là nước đầu tiên phát hiện ra đảo Palmas (Miangas). Trong phán quyết, ông nhận xét rằng: "Không có vẻ là sự phát hiện ra đảo Palmas (hay Miangas) được thực hiện bởi đại diện của một nước không phải Tây Ban Nha, hoặc Bồ Đào Nha. Vì mục đích của vụ việc này, trong bất kỳ trường hợp nào, đều công nhận danh nghĩa ban đầu xuất phát từ việc phát hiện thuộc về Tây Ban Nha”[[5]]. Tuy nhiên Trọng tài cho rằng các nguyên tắc của Luật quốc tế có quá trình hình thành và phát triển. Trong quá trình đó, pháp luật ngày càng hoàn thiện. Các hành vi chiếm hữu lãnh thổ phải đáp ứng các điều kiện phát triển của pháp luật đương thời với chúng:"Liên quan đến câu hỏi hệ thống pháp luậtkhác nhau nào kế tiếpvề thời gian sẽ được áp dụng trong trường hợp cụ thể (được gọi là luật đương đại) phân biệt giữa việc tạo ra các quyền và sự tồn tại củacácquyền. Theo nguyên tắc đó, chủ thể của hành động tạo ra một quyền có hiệu lực pháp luật tại thời điểm phát sinh quyền, quyền đó đòi hỏi phải hiện hữu thực sự, nói cách khác phải thể hiện liên tục, đáp ứng các điều kiện phát triển của pháp luật”[[6]]. Trọng tài đã lập luận rằng việc phát hiện không tạo ra một danh nghĩa chủ quyền cuối cùng, mà chỉ là một danh nghĩaban đầu, phôi thai (inchoate title). Để có chủ quyền trên những hòn đảo được phát hiện, danh nghĩa khám phá ban đầu phải được hoàn tất trong một khoảng thời gian hợp lý bằng việc chiếm đóng hữu hiệu trên khu vực tuyên bốđã phát hiện. Từ nguyên tắc đó, Trọng tài đã so sánh hành động thực tế của Tây Ban Nha và Hà Lan trên đảo tranh chấp, kết hợp với đánh giá các tài liệu được đệ trình.

Khi xem xét các hành động của Tây Ban Nha, Trọng tài đã nhận xét: "Không có bất kỳ tài liệu chính thức nào đề cập đến đảo Palmas được đặt dưới nền hành chính hoặc tư pháp một huyện của Chính phủ Tây Ban Nha trước đây ở Philippines”[[7]]. "Đối với các thông tin liên quan đến tiếng bản địa hoặc hiểu biết của người Tây Ban Nha, ngay cả khi được cung cấp đầy đủ, vẫn còn quá mơ hồ để chỉ ra sự tồn tại của mối liên kết chính trị và hành chính giữa Palmas (hay Miangas) và Mindanao”[[8]].

Như vậy, mặc dù Trọng tài công nhận danh nghĩa phát hiện ban đầu đối với hòn đảo tranh chấp thuộc về Tây Ban Nha, nhưng danh nghĩa ban đầu chưa tạo ra danh nghĩa chủ quyền hoàn chỉnh. Cho đến thời điểm Tây Ban Nha chuyển nhượng Philippines cho Hoa Kỳ theo Hiệp ước Paris 1898 thì chủ quyền của Tây Ban Nha trên hòn đảo Palmas (Miangas) quá mờ nhạt, không đủ cơ sở để khẳng định. Vì vậy, Tây Ban Nha không thể chuyển giao đảo Palmas - lãnh thổ không phải của họ cho Hoa Kỳ, Trọng tài nhận xét: "Hiển nhiên là Tây Ban Nha không thể chuyển giao nhiều hơn những quyền mà mình có" [[9]].

Trong hoàn cảnh ấy, các tài liệu đã chứng minh khá đầy đủ việc công ty Đông Ân của Hà Lan đã ký kết hiệp ước với các lãnh chúa bản địa và thực thi chủ quyền một cách hoà bình, liên tục bằng các hành động như phát cờ, huy hiệu, lập bản đồ, tổ chức địa giới hành chính, thu thuế… Trọng tài đánh giá cao các hành vi của Hà Lan thông qua các sự kiện sau đây:

- Giai đoạn từ cuối thế kỉ 16 đến thế kỉ 19, các công ty được quốc gia đầu tư, trở thành chủ thể mang quyền lực công cộng khai phá và quản lý thuộc địa. Công ty Đông Ấn là một trong số những công ty nổi tiếng nhất. Các giao ước giữa Công ty Đông Ấn Hà Lan với các hoàng tử hoặc thủ lĩnh các dân tộc bản địa, ngoài những lợi ích, các đặc quyền về thương mại và hàng hải cũng như các quan hệ bang giao với các chính quyền khác và thực hiện quyền lực công cộng đối với công dân, người nước ngoài. Trọng tài nhận xét: "các giao ước phổ biến như vậy tạo nên bá chủ và chư hầu hoặc cái gọi là chế độ thuộc địa”.

- Tiếp theo, Trọng tài đánh giá cao các hành động thực tế mang đặc trưng của nhà nước trên đảo Palmas (hoặc Mianga) trong những kỷ nguyên khác nhau vào giữa những năm 1700 và năm 1898 và giữa năm 1898 và 1906. Hàng loạt các hành động của Hà Lan trên thực tế đã được Trọng tài cân nhắc, coi đó là minh chứng cho việc thực thi chủ quyền hữu hiệu hơn so với những hành vi mờ nhạt của Hoa Kỳ. Đó là biểu tượng của nhà nước Hà Lan trên đảo diễn ra trong trong chuyến thăm vào tháng 01/1906, Tướng Wood đã ngạc nhiên về việc quốc kì Hà Lan tung bay trên bãi biển và trên con thuyền đi đến chỗ tàu của Hoa Kỳ. Ông coi đó là dấu hiệu sở hữu của Hà Lan tại thời điểm viếng thăm. Năm 1896, Hà Lan có hành động trao huy chương cho người đứng đầu hành chính trên đảo tại Miangas. Hà Lan hoàn toàn hiểu biết về đặc điểm của Miangas, được vẽ trong nhiều bản đồ như "Palmas”; thể hiện trong báo cáo của Tư lệnh hải quân Hà Lan tầu "Raaf” (tháng 11/1896) và tầu H.M.S "Edi” (tháng 6/1898). Những sỹ quan này đề cập những cái tên kép và hầu hết vị trí đường biển chính xác về hòn đảo sau chuyến viếng thăm. Thêm nữa, những hoạt động của Hà Lan về tổ chức hành chính như: lập danh sách tên của các ngôi làng (negorijen), các huyện, chức danh chủ tịch (djoegoeschappen) cũng như số lượng, chức vụ, tên của các quan chức bản địa. Hoặc thông qua hoạt động thu thuế: Chính phủ Hà lan đã lập biểu thuế, số người nộp thuế, số tiền phải nộp "mỗi người đàn ông bản địa trên 18 tuổi phải nộp 01 florin thay vì nộp bằng vật cống nạp như trước khi ký giao ước năm 1885.

Trọng tài cũng nhận xét rằng các hành động trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện chủ quyền của Hà Lan đối với đảo Palmas (Miangas) đặc biệt là trong thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 có một số gián đoạn. Nhưng theo Trọng tài, đối với một hòn đảo nhỏ và xa bờ, chỉ có dân bản địa sinh sống, không có người lui tới thì sự gián đoạn ngắn là chấp nhận được.

Nhận xét: Trong vụ án, cả hai bên đều lý giải nguồn gốc thụ đắc chủ quyền lãnh thổ của mình. Theo Hoa Kỳ, nguồn gốc ấy cơ bản xuất phát từ việc Tây Ban Nha phát hiện hòn đảo đầu tiên, sau đó chuyển giao cho Hoa Kỳ thông qua điều ước chuyển nhượng. Hà Lan không phải nước phát hiện đầu tiên nhưng là nước thiết lập chủ quyền một cách thực sự trên hòn đảo tranh chấp. Để giải quyết mâu thuẫn này, Trọng tài Max Huber đã dẫn chiếu tập quán chiếm hữu lãnh thổ, trong đó hai nguyên tắc quan trọng được áp dụng là nguyên tắc luật đương đại (intertemporal law) và chiếm hữu thật sự.

Nguyên tắc luật đương đại phân biệt giữa việc tạo ra các quyền và sự tồn tạicủa các quyền. Chủ thể của hành động tạo ra một quyềncó hiệu lực pháp luậttại thời điểm phát sinh quyền, quyền đó phải đáp ứng các tiêu chuẩn của pháp luật đặt ra trong từng thời kỳ mà quyền đó được tạo ra. Đối với chiếm cứ lãnh thổ, từ thế kỷ 19, chỉ phát hiện không thôikhông tạo ra một danh nghĩa chủ quyền cuối cùng, mà chỉ là một danh nghĩa phôi thai. Danh nghĩakhám phá ban đầuphải được hoàn tất trong một khoảng thời gian hợp lý bằng việc chiếm đóng hữu hiệu trên khu vực tuyên bố đã phát hiện. Vì vậy, Trọng tài xác nhận Tây Ban Nha là nước đầu tiên phát hiện hòn đảo Palmas (Miangas) nhưng do không duy trì việc chiếm đóng hữu hiệu trên hòn đảo này, nên không được công nhận quyền sở hữu và đương nhiên không có quyền chuyển nhượng hòn đảo này cho Hoa Kỳ vào thời điểm 1898.

Nguyên tắc thứ hai có tính quyết định đến phán quyết đảo Palmas (Miangas) thuộc Hà Lan là nguyên tắc chiếm hữu thật sự. Hà Lan có mặt muộn hơn Tây Ban Nha nhưng có những hành xử chủ quyền hữu hiệu trên đảo Palmas (Miangas). Sự chiếm đóng hữu hiệu của Hà Lan được khẳng định bằng các hành động thực sự, hoà bình, liên tục, công khai, đã thuyết phục Trọng tài hơn so với sự phát hiện ban đầu, chỉ tạo nên danh nghĩa phối thai của Tây Ban Nha. Nghiên cứu bản phán quyết thấy chủ thể của hành vi chiếm hữu lãnh thổ thuộc về nhà nước, thông qua các viên chức thừa hành (các sỹ quan chỉ huy, người đứng đầu bộ máy hành chính…), các tổ chức nhà nước (Công ty Đông Ấn, bộ máy hành chính thuộc địa…) và các biểu tượng của nhà nước (cờ, huy hiệu…), cũng như các hành vi chiếm hữu mang đặc trưng của nhà nước (các giao kết chính trị với thủ lĩnh bản địa, bảo hộ ngoại giao, kinh tế, thu thuế v.v…). Một tiêu chuẩn nữa mà Trọng tài đã phân tích là hành vi chủ quyền phải công khai, liên tục trong thời gian dài. Tuy nhiên tính liên tục không đồng nhất với thường xuyên mà có những gián đoạn nhất định tuỳ thuộc vào hoàn cảnh địa lý, xã hội của vùng lãnh thổ ấy.

2.2. Giá trị của các tấm bản đồ

Cả Hoa Kỳ và Hà Lan đều đệ trình lên Trọng tài nhiều tấm bản đồ để chứng minh cho luận điểm của mình. Hoa Kỳ đệ trình 12 bảnđồ kèm theo Bị vong lục, 3 bản đồ kèm theo Phản bị vong lục, 8 bản đồ kèm theo Kháng biện. Hà Lan đệ trình 4 bản đồ kem theo Bị vong lục, 01 bản đồ kèm theo Phản bị vong lục, 25 bảnđồ và phác thảo kèm theo bản Giải trình. Số lượng bản đồ được các bên trình lên khá lớn, nhiều tên địa danh trong đó không thống nhất nhưng đều được các bên biện luận là danh xưng của Palmas (Miangas).

Trọng tài đã rất thận trọng trong việc xem xét các tấm bản đồ này. Ông nhận xét: "chỉ có thể với sự thận trọng cao nhất đối với các tấm bản đồ các tỷ lệ mới có thể cân nhắc đến việc quyết định câu trả lời về chủ quyền trong trường hợp của đảo như Palmas (hay Miangas)[[10]]. Theo Trọng tài, bản đồ có giá trị chứng minh phải đáp ứng được độ chính xác cao về địa lý: "Điều kiện yêu cầu đầu tiên đối với bản đồ dùng làm bằng chứng pháp lý là độ chính xác địa lý. Bản đồ không chỉ ở thời cổ đại mà ngay cả bản đồ hiện đại, dù chính thức hay bán chính thức, đều cần độ chính xác”[[11]], phải thể hiện độ tin cậy dựa trên những thông tin thu thập được một cách tin cậy dựa trên những thông tin được thu thập một cách kỹ lưỡng. Điều quan trọng nữa, bản đồ phải chỉ ra được chính xác sự phân chia về chính trị. Ở trường hợp này hiểu là phân chia về biên giới lãnh thổ: "Bất kỳ tấm bản đồ nào không chỉ ra một cách chính xác sự phân chia về chính trị các vùng lãnh thổ, đặc biệt là đối với đảo Palmas (hay Miangas), thì phải được loại bỏ ngay lập tức, trừ khi chúng góp phần xác định - giả sử là chính xác - những vị trí của cái tên địa lý”[[12]]. Như vậy, theo Trọng tài, bản đồ có giá trị làm bằng chứng phải: (1) Đạt độ chính xác cao các thông tin về địa lý. (2) Dựa trên các thông tin đo đạc kỹ lưỡng, tin cậy. (3) Phải thể hiện sự phân định chính trị (tức phân chia lãnh thổ).

Những giá trị của phán quyết Trọng tài trong vụ đảo Palmas (Miangas) có giá trị quan trọng trong việc đánh giá các quan điểm của Trung Quốc và Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vụ tranh chấp này có nhiều tương đồng với vụ tranh chấp hai quần đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung Quốc quan điểm có chủ quyền lịch sử do phát hiện từ những năm 220 trước công nguyên nhưng các hành động thực thi chủ quyền của họ vô cùng mờ nhạt. Trong khi ấy Việt Nam thực hiện chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách thực tế, hoà bình và liên tục kể từ thế kỷ XVII cho đến nay.

3. Việt Nam chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với nguyên tắc luật đương đại và nguyên tắc chiếm hữu thật sự

Sách trắng của Việt Nam năm 1988 viết: "Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này ít ra từ thế kỷ XVII khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình cho đến khi nó bị các lực lượng vũ trang Trung Quốc xâm chiếm”[[13]]. Thật vậy, đáp ứng tiêu chuẩn của nguyên tắc chiếm hữu thật sự, các nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu, thực thi chủ quyền một cách thật sự, ngay thẳng, hoà bình, liên tục trong suốt nhiều thế kỷ.

Chưa hẳn trong những năm tháng ở thể kỷ XVII, nhà nước phong kiến Việt Nam có nghiên cứu và thực hiện theo nguyên tắc chiếm hữu thật sự, một nguyên tắc bắt nguồn và phát triển tChâu Âu nhưng các hoạt động của nhà nước Việt Nam thời đó theo cách rất tự nhiên, đã đáp ứng tiêu chuẩn của nguyên tắc chiếm hữu thật sự. Cụ thể như vẽ bản đồ, đặt tên quần đảo, sáp nhập vào địa giới hành chính, lập cơ quan chuyên trách khai thác và quản lý, đo đạc hải trình, xây đền, dựng bia, cắm mốc chủ quyền, thu thuế, thực hiện nghĩa vụ quốc tế, cứu vớt các thuỷ thủ Hà Lan bị đắm tàu vào năm 1634 và 1714[[14]] v.v... Việc thực thi chủ quyền của nhà Nguyễn công khai, liên tục thể hiện ý chí và mục đích rõ ràng việc chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa trong hàng thế kỷ, suốt từ thế kỷ XVII, liên tục cho đến giai đoạn thực dân Pháp mở màn cuộc chiến năm 1958 và đi đến hòa ước năm 1884, Việt Nam đặt dưới sự bảo hộ của nước Pháp mà không có sự phản đối của quốc gia nào.

Việc đặt tên và vẽ bản đồ: Các sách sử của Việt nam còn ghi lại rằng cư dân người Việt ven biển đã sớm phát hiện ra các đảo ở Hoàng Sa đặt tên ban đầu là Bãi Cát Vàng (tên nôm), được Hán hoá ngôn ngữ là Hoàng Sa. Trong Thiên nam tứ chí lộ đồ thư, Đỗ Bá Công Đạo đã vẽ tấm bản đồ Hoàng Sa trong lãnh thổ Việt Nam. Điều đó cho thấy một khía cạnh quan trọng là nhà nước phong kiến Việt Nam lúc đó có ý thức xác lập lãnh thổ đối với những quần đảo này. Đỗ Bá Công Đạo là người đậu giám sinh năm 1672, làm tri huyện Thạch Hà [[15]], tuy tài liệu được soạn trong thế kỷ XVII nhưng tư liệu ghi chép căn cứ từ thế kỷ XV, khi Vua Lê Thánh Tông chinh phục Chiêm Thành [[16]]. Cho nên có thể còn sớm hơn hoặc muộn nhất là thế kỷ XVII Nhà Lê đã làm chủ Hoàng Sa. Do kỹ thuật thời xưa còn lạc hậu nên bản đồ chưa thể hiện chính xác tọa độ địa lý. Nếu theo quan điểm mà Trọng tài Max Huber đưa ra thì chưa đạt tiêu chuẩn làm bằng chứng pháp lý. Song, phải khẳng định rằng thời đó Nhà Nguyễn Việt Nam đã thể hiện ý chí chiếm hữu Bãi Cát Vàng.

Xin được lưu ý bằng chứng chiếm hữu Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam không chỉ dựa trên một vài tấm bản đồ cổ mà còn được thể hiện ngay cả trong chính những bản đồ đương thời của Trung Quốc, do chính tay người Trung Hoa và nhà nước Trung Hoa phát hành từ năm 1909 trở về trước, đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung quốc. Đó là Dư địa đồ đời Nguyên của Chu Tư, được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư đồ của La Hồng Tiên quyển 1, thực hiện năm 1561. Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồđời Minh trong Đại Minh Nhất Thống Chí, năm 1461. Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ đời Minh, trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ của Trần Tổ Thụ, 1635. Lộ Phủ, Châu Huyện Đồ đời Nguyên vẽ lại trong Kim Cổ Dư Đồ của Nguyễn Quốc Phụ đời Minh, năm 1638. Hoàng Triều Phủ Sảnh, Châu , Huyện Toàn Đồ đời Thanh, khuyết danh, năm 1862, vẽ theo Nội Phủ Địa Đồ gồm 26 mảnh mang tên Đại Thanh Trực Tỉnh Toàn Đồ. Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồtrong tập Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ (khuyết danh), năm 1894. Đại Thanh Đế Quốc trong tập Đại Thanh Đế Quốc Toàn Đồ do Thường Vụ Án Thư Quán Thượng Hải, 1905. Đại Thanh Đế Quốc Vị Trí Khu Hoạch Đồ (1909).

Việc sáp nhập các địa giới hành chính, thành lập các đội chuyên trách nhằm mục đích khai thác sản vật và bảo vệ chủ quyền: Theo ghi chép trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn (1776) cho thấy không chỉ dừng lại ở việc vẽ bản đồ Bãi Cát Vàng, Nhà Nguyễn đã đặt tên Đại Trường Sa và sáp nhập vào địa giới Phủ Quảng Ngãi. Theo mô tả về số lượng đảo và khoảng cách địa lý: "Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến", cho thấy nhận biết thời đó gần đúng với thực tế quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay, bởi ngoài hai quần đảo này trên Biển Đông, không có quần đảo nào có số lượng đảo nhiều như vậy. Phủ biên Tạp Lục cũng ghi chép chi tiết việc lập cơ quan chuyên trách của triều đình làm nhiệm vụ khai thác sản vật: "Ở ngoài núi Cù Lao Ré có đảo Đại Trường Sa, ngày trước, nơi đây thường sản xuất nhiều hải vật chở đi bán các nơi, nên nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để thu nhận các hải vật". "Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ - chính ở Bình - Thuận, hoặc người xã Cảnh - Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi". Trong Chỉ thị ngày 14 tháng 02 năm Thái Đức thứ 9 (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công gửi Cai đội Hoàng Sa có ghi: "Sai Hội Đức Hầu, cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn chiếc thuyền câu vượt biển, thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba cùng đá quý đều chở về kinh tập trung...". Ngoài ra còn tìm thấy nhiều hoạt động của đội quân này trong các sách chính sử như Dư Địa Chí trong Bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí(1833).

Những hoạt động khảo sát, xây đền, dựng bia, mốc chủ quyền được tìm thấy trong một loạt các biên sử của triều đình nhà Nguyễn. Đại Nam Thực Lục Chính Biên (năm 1848) viết: "tháng giêng năm Ất Hợi (1815) [vua Gia Long] sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình...”. "Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình...”. "Năm Giáp Ngọ, Minh Mạng 15 (1834) sai giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ". "Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo 10 cái bài gỗ dựng bàn dấu mốc, chủ quyền". Trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) viết: "Năm thứ 16 (1836) chuẩn y lời tâu cho tỉnh Quảng Ngãi dựng miếu Hoàng Sa một gian". Châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), có những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như bộ Công, bộ Hộ và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn: Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) thưởng phạt những người công tác tại Hoàng Sa. Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836 ), Tấu của bộ Hộ ngày 11 tháng 7 năm Minh Mang thứ 17 (1836) xin thanh toán cấp lương thực cho dân phu công vụ Hoàng Sa v.v ... Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn đời vua Minh Mạng viết: "tháng giêng, năm Bính Thân thứ 17 (1836)…, triều đình đã khiến thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đến Quảng Ngãi, thẳng tới miền Hoàng Sa, không nệ cù lao nào, cồn cát nào, ... nhất nhất ghi chép rõ ràng. Lại chuẩn bị mang theo thẻ gỗ đến nơi dựng lên làm dấu, vẽ đồ bản đem về dâng lên ngài ngự lãm".

Sau khi triều đình Huế ký hiệp ước với Pháp (1884), Việt Nam chấp nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Năm 1898, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị xây dựng một hải đăng tại đảo Hoàng Sa (Pattle) nhưng kế hoạch không được thực hiện vì thiếu kinh phí. Từ 1930 đến 1933, Pháp cử các đơn vị hải quân lần lượt ra đóng các đảo chính của quần đảo Trường Sa: Spratly (Trường Sa), Caye dAmboine (An Bang), Itu Aba (Ba Bình), nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ... Chính phủ Pháp sáp nhập các đảo vào địa phận tỉnh Bà Rịa (1933). Năm 1938, Bảo Đại sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Năm 1938, chính quyền xây dựng trên đảo Hoàng Sa bia chủ quyền "Republique Francaise – Royaume dAnnam – Achipel des paracels 1816 – Ile de Pattle -1938", xây dựng trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa và đảo Phú Lâm. Chính quyền bảo hộ Pháp nhiều lần phản đối chính phủ Trung Quốc xâm phạm Hoàng Sa (ngày 04/12/1931 và 24/04//1932), và đã hai lần yêu cầu giải quyết vấn đề bằng trọng tài (ngày 04/01/1932 và 18/2/1937) nhưng phía Trung Quốc không chấp nhận [[17]]. Tháng 01/1947, Quốc Dân Đảng lợi dụng việc giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam đã chiếm đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa, rút quân năm 1950), ngày 17/01/1947 quân Pháp đóng tại đảo Hoàng Sa, yêu cầu quân Tưởng rút quân nhưng bị từ chối. Ngày 04/7/1947, Bộ Ngoại giao Pháp yêu cầu Trung Quốc đưa ra giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, nhưng bị Trung Quốc khước từ[[18], trg 140].

Theo một tài liệu được Đại sứ quán Nhật Bản công bố thì tại Hội nghị Sanfransisco 1951, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao của Liên Xô, AA Gromyko đề nghị trao Hoàng Sa, trường Sa cho Cộng Hoà nhân dân Trung Hoa: "Thực tế không thể tranh cãi rằng lãnh thổ nguyên gốc Trung Quốc đã bị tách ra chẳng hạn như Đài Loan, Bành Hồ, quần đảo Hoàng Sa và những lãnh thổ khác của Trung Quốc, nên trả về Cộng hoà nhân dân Trung Hoa" [[19]]. Tuy nhiên, đề nghị trên bị bác bỏ (48/51 phiếu). Ngày 07/9/1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu, đại diện cho Việt Nam Cộng Hoà trong hội nghị đã phát biểu "Để cắt đứt mọi mầm mống xích míc, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà bất cứ ở thời đại nào cũng vẫn thuộc lãnh thổ quốc gia Việt Nam[[20], trg 102]", bài phát biểu của ông không có ai phản đối hoặc bảo lưu[[21], trg 14].

Năm 1954, Hiệp định Geneva về công nhận chủ quyền cho Việt Nam, tại Điều 1 và bản đồ kèm theo đã xác định vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm chia Việt Nam thành 2 miền: miền Bắc (Việt Nam dân chủ cộng hoà quản lý) và miền Nam (Cộng hoà miền Nam quản lý, trong đó có các đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Năm 1956, Pháp thực hiện Hiệp định Geneva, trao trả chủ quyền và rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc thừa cơ cho quân chiếm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Còn nhóm đảo phía Tây (nhóm Lưỡi Liềm) do quân Việt Nam Cộng hoà chiếm giữ. Chính quyền miền Nam đưa quân đội ra chiếm giữ các đảo Trường Sa. Năm 1960, quần đảo Hoàng Sa sáp nhập vào tỉnh Quảng Nam. Năm 1973 quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy. Năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm nốt các đảo thuộc Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam Cộng hoà và đóng quân ở đó cho đến ngày nay. Chính quyền Sài gòn đã gửi công hàm cho Chủ tịch Hội đồng bảo an và Tổng thư ký Liên hợp quốc thông báo hàng động vũ trang của Trung Quốc trên Hoàng Sa[[22], trg 142-145].

Năm 1975, quân đội Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp quản, thay thế quân đội Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường Sa. Vài năm sau đó, Trung Quốc đánh chiếm một số vị trí thuộc quần đảo Trường Sa (Đá Chữ Thập, Đá Gaven, Đá Gạc Ma, Đá Châu Viên, Đá Subi, Đá Châu Viên, Đá Tư Nghĩa), trong đó có vụ ngày 14/3/1988, tầu Trung Quốc đã bắn chìm tầu một tầu và hư hỏng 2 tầu công binh, làm mất tích 74 lính Việt Nam, Trung Quốc còn chiếm một số vị trí khác năm 1989 [[23]].

Tóm lại: Thông qua thực tiễn pháp lý trong các vụ tranh chấp đảo Palmas (hay Miangas) giữa Hoa Kỳ và Hà Lan năm 1928, cho thấy pháp luật quốc tế ở vào thế kỷ XIX, hành vi của một quốc gia chỉ phát hiện ra một vùng đất vô chủ mà sau đó không thực hiện chủ quyền một cách thực sự thì không được công nhận chủ quyền lãnh thổ trên vùng đất đã phát hiện. Pháp luật quốc tế có quá trình phát triển và hoàn thiện, các hành vi chủ quyền của các quốc gia diễn ra trong thời gian dài phải đáp ứng với các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế đương thời (intertemporal law), theo đó chủ thể của hành động tạo ra một quyềncó hiệu lực pháp luật tại thời điểmphát sinh quyền và quyền đó phải đáp ứng các điều kiện phát triển của pháp luật. Sự phát triển của pháp luật quốc tế đã hoàn thiện nguyên tắc chiếm hữu thực sự. Một danh nghĩa khám phá vùng đất vô chủ ban đầu phải được hoàn tất trong một khoảng thời gian hợp lý bằng các hành vi chiếm hữu của nhà nước một cách công khai, liên tục, hòa bình, đáp ứng các điều kiện màpháp luật quốc tế đặt ra.

Trung Quốc cho rằng đã phát hiện Hoàng Sa từ những năm 220 trước công nguyên nhưng sử liệu của Trung Quốc đã không thể hiện được hành động chủ quyền một cách rõ ràng trên những địa danh mà họ yêu sách. Ngược lại, qua sử liệu Việt Nam đã chứng minh một cách đầy đủ, rõ ràng, nhất quán việc nhà nước Việt Nam thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách hữu hiệu, liên tục và hòa bình muộn nhất là kể từ thế kỷ XVII cho đến nay. Những hành vi thực thi chủ quyền của Việt Nam một lẽ tự nhiên đã đáp ứng tiêu chuẩn của nguyên tắc chiếm hữu thật sự đương thời. Thực tế này tương tự trường hợp của Hà Lan trên đảo Palmas (Miangas), được Trọng tài quốc tế công nhận và phán quyết thuộc phần lãnh thổ Hà Lan.

Bằng chứng từ bản đồ chưa phải cái mang tính quyết định, cần phải được xem xét hết sức thận trọng. Bản đồ chỉ có giá trị chứng minh khi có nguồn gốc rõ ràng, được vẽ trên cơ sở thông tin chính xác về vị trí địa lý dựa trên kết quả đo đạc chu đáo, có tên địa danh và phân chia biên giới chính trị rõ ràng./.


[1] Xem "Quy chế Toà án quốc tế”, Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội (2006).

[2] Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Miangas

[3] Nguồn: www.pca-cpa.org/showfile.asp?fil_id=168

[4] Xem tại trang điện tử của Trọng tài thường trực La Hay: www.pca-cpa.org/showfile.asp?fil_id=168

[5] Nguyên văn: "It does not seem that the discovery of the Island of Palmas (or Miangas) would have been made on behalf of a Power other than Spain; or Portugal. In any case for the purpose of the present affair it may be admitted that the original title derived from discovery belonged to Spain”

[6] Nguyên văn: "As regards the question which of different legal systems prevailing at successive periods is to be applied in a particular case (the so-called intertemporal law), a distinction must be made between the creation of rights and the existence of rights. The same principle which subjects the act creative of a right to the law in force at the time the right arises, demands that the existence of the right, in other words its continued manifestation, shall follow the conditions required by the evolution of law”.

[7] Nguyên văn: "Neither is there any official document mentioning the Island of Palmas as belonging to an administrative or judicial district of the former Spanish Government in the Philippiness.”

[8] Nguyên văn: "As regards the information concerning the native language or knowledge of Spanish, even if sufficiently established, it is too vague to indicate the existence of a political and administrative connection between Palmas (or Miangas) and Mindanao.”

[9] Nguyên văn: It is evident that Spain could not transfer more rights than she herself possessed

[10] Nguyên văn: A comparison of the information supplied by the two Parties shows that only with the greatest caution can account be taken of maps in deciding a question of sovereignty, at any rate in the case of an island such as Palmas (or Miangas).

[11] Nguyên văn: The first condition required of maps that are to serve as evidence on points of law is their geographical accuracy. It must here be pointed out that not only maps of ancient date, but also modern, even official or semi-official maps seem wanting in accuracy.

[12] Nguyên văn: Any maps which do not precisely indicate the political distribution of territories, and in particular the Island of Palmas (or Miangas) clearly marked as such, must be rejected forthwith, unless they contribute – supposing that they are accurate – to the location of geographical names.

[13] Bộ Ngoại giao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1988), Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quôc tế.

[14] Tư liệu lịch sử chủ yếu rút ra từ Luận án Tiến sỹ sử học của Nguyễn Nhã (2002): Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

[15] Đỗ Quang (10/12/2007), "Người vẽ bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thế kỷ 16", http://hodovietnam.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=585&Itemid=32

[16] Lãng Hồ (1975), "Hoàng Sa và Trường Sa, Lãnh thổ Việt Nam", Tập san sử địa (29), Nhà sách Khai Trí, Sài gòn.

[17] Lưu Văn Lợi (1995), Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

[18] Lưu Văn Lợi (1995), Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

[19] Ministry of Forreign Affairs of Japan, SAN FRANCISCO PEACE TREATY, http://www.mofa.go.jp/region/europe/russia/territory/edition92/period4.html

Nguyên văn "It is an indisputable fact that original Chinese territories which were severed from it, such as Taiwan (Formosa), the Pescadores, the Paracel Islands and other Chinese territories, should be returned to the Chinese People’s Republic

[20] Đinh Phan Cư (1972), Chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận văn tốt nghiệp Học viện quốc gia hành chánh, Sài gòn.

[21] Lưu Văn Lợi (1995), Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

[22] Lưu Văn Lợi (1995), Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

[23] Nguyễn Nhã (2002), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, luận án tiến sỹ lịch sử, ĐHQG TP Hồ Chí Minh

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi