3.1. Hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính ở cấp phúc thẩm.

3.1.1. Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi mở phiên toà phúc thẩm

Trước khi mở phiên tòa, KSV, KTV, CV được phân công thực hiện hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị và lập hồ sơ kiểm sát.

Việc nhận hồ sơ và nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia phien tòa phúc thẩm của VKS được thực hiện theo quy định tại Điều 200 Luật TTHC và điểm b khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 03/2012. Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án cần làm rõ các nội dung sau:

+       Xác định tính hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị: Kiểm sát viên căn cứ vào các điều 174, 175, 176, 178, 181, 182 và Điều 183 của Luật TTHC để xác định tính hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị. Tr¬ường hợp kháng cáo quá hạn thì phải xem xét, làm rõ thời gian có trở ngại khách quan để chấp nhận việc kháng cáo.

+       Xác định vi phạm pháp luật của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị: Kiểm sát viên phải xuất phát từ nội dung yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị để nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm lấy làm căn cứ nhận định và đ¬ưa ra phán quyết; đánh giá tính hợp pháp, khách quan của bản án, quyết định thông qua việc xem xét tính hợp pháp, khách quan, đầy đủ của các tài liệu, chứng cứ  có trong hồ sơ vụ án.

+       Xem xét những tài liệu và chứng cứ mới bổ sung ở thủ tục phúc thẩm và xác định tính hợp pháp của những tài liệu chứng cứ mới đó có thật sự làm thay đổi việc áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp so với phán quyết của Toà án cấp sơ thẩm. Tr¬ường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên có trách nhiệm bổ sung tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quan điểm kháng nghị theo quy định tại các điều 188, 189 Luật TTHC.

+       Nghiên cứu các văn bản pháp luật mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng để giải quyết vụ án, đối chiếu với các tình tiết khách quan của vụ án để xác định việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm đã phù hợp với quy định của pháp luật hay ch¬ưa.

+       Trường hợp phát hiện kháng nghị của Viện kiểm sát không đủ căn cứ hoặc không phù hợp với các tình tiết khách quan của bản án, quyết định bị kháng nghị thì Kiểm sát viên đề xuất với Lãnh đạo viện điều chỉnh kháng nghị (rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị theo quy định của pháp luật).

+       Lập hồ sơ kiểm sát: Hồ sơ kiểm sát ở thủ tục phúc thẩm cũng có những tài liệu tương tự như hồ sơ kiểm sát ở thủ tục sơ thẩm và có thêm bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị những tài liệu chứng cứ mới được bổ sung.

+       Chuẩn bị đề cương hỏi: Việc xây dựng đề cương hỏi tiến hành như đối với việc xây dựng đề cương hỏi ở cấp sơ thẩm.

+       Dự thảo ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm. Dự thảo ý kiến phải nêu được tính hợp pháp và tính có căn cứ của yêu cầu kháng cáo, nội dung và quan điểm nêu trong kháng nghị; xác định tính hợp pháp hoặc vi phạm pháp luật của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị; ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Dự thảo ý kiến của Viện kiểm sát phải được thông qua Lãnh đạo Viện trước khi tham dự phiên toà phúc thẩm,

3.1.2. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết kháng cáo, kháng nghị; sử dụng tài liệu chứng cứ để bảo vệ quan điểm kháng nghị.

- Kiểm sát viên thực hiện những nhiệm vụ trên đây thông qua các hoạt động sau:

+       Kiểm sát việc đưa vụ án ra xét xử tại tòa, việc chấp hành thời hạn mở phiên toà (lưu ý những trường hợp Toà án không phải mở phiên toà).

+       Kiểm sát thành phần tham gia phiên toà: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo quy định tại các điều 34, 41, 47, 48, 192 và Điều 193 Luật TTHC (lưu ý những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng).

+       Kiểm sát việc chấp hành trình tự, thủ tục mở phiên toà theo quy định tại Điều 202 Luật TTHC. Kiểm sát viên phải xem xét việc sử dụng chứng cứ, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử nhằm đảm bảo đúng pháp luật, khách quan, toàn diện.

- Tham gia hỏi để bảo vệ quan điểm kháng nghị hoặc quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo: Khi hỏi, Kiểm sát viên phải tập trung làm rõ những vướng mắc có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Việc hỏi của Kiểm sát viên phải trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

- Xem xét rút quyết định kháng nghị và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng cấp mình.

- Trình bày ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.

- Kiểm sát việc tuyên án theo quy định tại Điều 205 và Điều 206 Luật TTHC.

Lưu ý: Theo quy định tại Điều 196 và Điều 207 Luật TTHC quy định các trường hợp Hội đồng xét xử không phải mở phiên tòa. Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm phải tổ chức phiên họp và ra quyết định giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm và phát biểu ý kiến về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định.

3.1.3. Hoạt động của Kiểm sát viên sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm.

- Kiểm sát bản án, quyết định của Toà án. Nếu phát hiện có sai sót thì yêu cầu Toà án khắc phục. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì đề xuất việc kháng nghị.

- Làm báo cáo kết quả kiểm sát xét xử: Báo cáo kết quả kiểm sát xét xử phúc thẩm làm thành 2 bản, một bản báo cáo lãnh đạo và lưu hồ sơ, một bản gửi Viện kiểm sát cấp trên. Nội dung báo cáo phải nêu rõ những tình tiết mới phát sinh dẫn đến trường hợp Toà án quyết định khác với quan điểm của Viện kiểm sát hoặc những trường hợp Kiểm sát viên phải điều chỉnh quan điểm giải quyết vụ án. Những trường hợp Kiểm sát viên điều chỉnh hoặc rút quyết định kháng nghị tại phiên toà phúc thẩm thì phải nêu rõ lý do và trình bày quan điểm của mình về những vấn đề đó.

 

- Sắp xếp hồ sơ kiểm sát để có tài liệu lưu trữ, theo dõi rút kinh nghiệm.