2.4. Kiểm sát việc Thủ trưởng Cơ quan thi hành án quyết định khôi phục thời hiệu thi hành án

- Căn cứ Điều 38 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì Quyết định thời hiệu thi hành án phải gửi cho VKSND cùng cấp. Kiểm sát viên cần chủ động phối hợp với Cơ quan thi hành án cùng cấp để nắm các bản án, quyết định cần ra quyết định thi hành án, có biện pháp yêu cầu Cơ quan thi hành án thực hiện việc ra quyết định thi hành án, nếu phát hiện vi phạm của cơ quan này thì có thể trực tiếp yêu cầu hoặc ra văn bản kháng nghị đối với vi phạm pháp luật trong việc ra quyết định khôi phục thời hiệu thi hành án yêu cầu Thủ trư¬ởng Cơ quan thi hành án huỷ bỏ quyết định đó.

- Căn cứ Điều 30 Luật THADS sủa đỏi, bổ sung năm 2014 thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án có thẩm quyền quyết định thi hành án xem xét, ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án.

- Kiểm sát viên cần chú ý đến việc xác định các trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định 58/2009/NĐ-CP khoản 2 Điều 3 Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013, theo đó sẽ xác định được việc có vi phạm hay không của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án khi xác định thời hịêu thi hành án. Trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng mà đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn đó là:

+ Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa;

+ Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể gửi đơn yêu cầu thi hành án đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức, phải điều trị nội trú hoặc do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

+ Đối với trường hợp xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc do đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế hay do trở ngại khách quan khác xảy ra tại địa phương nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú. Đối với trường hợp do phải chữa bệnh nội trú nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận hoặc giấy nhập viện, xuất viện của tổ chức y tế cấp huyện trở lên. Đối với trường hợp do yêu cầu công tác nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc giấy cử đi công tác của cơ quan, đơn vị đó. Đối với những trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan khác nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu hợp pháp khác để chứng minh. Xác nhận của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thể hiện rõ địa điểm, nội dung và thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn.

+ Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì thời gian có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng đó không được tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án. Đối với trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

- Căn cứ Điều 383 BLTTDS thì thời hiệu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; trường hợp bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay thì thời hiệu cũng được tính từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn; đối với bản án, quyết định của Tòa án thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

 

- Thời hiệu thi hành án chỉ áp dụng đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu; người phải thi hành án có quyền chứng minh thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết.