2.3. Hoạt động của Kiểm sát viên sau phiên tòa.

- Báo cáo kết quả xét xử với Lãnh đạo Viện và Viện kiểm sát cấp trên. Báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm phải được làm thành hai bản, một bản báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên, một bản báo cáo Lãnh đạo Viện và lưu trong hồ sơ kiểm sát. Nội dung báo cáo phải nêu tính có căn cứ, hợp pháp (hay không hợp pháp) của quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án được kiểm sát viên trình bày tại phiên toà. Với vụ án do Viện kiểm sát khởi tố, nếu tại phiên toà, Kiểm sát viên rút quyết định khởi tố hoặc thay đổi quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên phải ghi rõ lý do của việc rút quyết định khởi tố hoặc thay đổi quan điểm.

- Đề xuất với Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (hoặc báo cáo Viện kiểm sát cấp trên xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm), chuẩn bị căn cứ pháp luật, dự thảo văn bản kháng nghị (trong trường hợp ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án không được Hội đồng xét xử chấp nhận).

- Nghiên cứu phần nhận định của Toà án trong bản án, quyết định xem có phù hợp với các tình tiết của vụ án hay không? Toà án áp dụng các văn bản pháp luật về nội dung để giải quyết vụ án đã phù hợp, đúng pháp luật chưa? đối chiếu phần quyết định trong bản án, quyết định với phần ghi chép của Kiểm sát viên cũng như ý kiến đề xuất về đường lối giải quyết vụ án của Viện kiểm sát tại phiên toà để phát hiện vi phạm.

- Đề xuất việc kháng nghị hoặc kiến nghị theo quy định tại Điều 22 Luật tổ chức VKSND năm 2002 nếu phát hiện bản án, quyết định có vi phạm pháp luật.