2.1. Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi tham gia phiên tòa.

4.1.1. Khi nhận được các văn bản tố tung: Quyết định ADTĐHB biện pháp khân cấp tạm thời, văn bản thông báo về việc không ra quyết định ADTĐHB biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, KSV, KTV, CV được phân công thực hiện hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính phải tiến hành kiểm sát các quyết định này. Nếu có căn cứ cho rằng Tòa án ban hành các quyết định trên là không đúng quy định của pháp luật thì thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tạ khoản 1 Điều 70 Luật TTHC

 4.1.2. Nghiên cứu hồ sơ vụ án

Việc nhận hồ sơ và thời gian nghiên cứu hồ sơ để tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm của VKS được thực hiện theo quy định tại Điều 124 Luật TTHC và điểm a khoản 1 Điều 2 TTLT số 03/2012.

KSV, KTV, CV được phân công thực hiện hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính tiến hành nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tính , đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ của tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp hoặc do Tòa án xác minh, thu thập, nếu thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chưa đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án đúng căn cứ pháp luật thì báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện thực hiện quyền yêu cầu Tòa án xác minh thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 78 Luật TTHC và Điều 4 TTLT số 03/2012.

 

Ngoài xem xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính của Thẩm phán, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi mở phiên tòa, KSV, KTV, CV thực hiện nghiên cứu hồ sơ vụ án đồng thời tiến hành xem xét yêu cầu khởi kiện, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật về nội dung quan hệ đang có tranh chấp để kiểm sát việc giải quyết vụ án của Tòa án, bảo đảm việc giải quyết vụ án của Tòa án đúng căn cứ pháp luật. Cụ thể:

 

a. Xem xét toàn bộ nội dung vụ án với các vấn đề sau:

- Xác định tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện: Việc xác định tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện được đặt ra ngay từ khi kiểm sát việc thụ lýcủa Toà án và trở thành nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình tố tụng. Tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện được thể hiện ở các điểm sau:

+ Tư cách pháp lý của người khởi kiện, người đại diện, người được đương sự uỷ quyền tham gia tố tụng.

+ Thủ tục, điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính, các điều 31, 36, 39 Luật khiếu nại, tố cáo hoặc các tài liệu chứng minh cho việc đương sự đã khiếu nại nhưng không được người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trả lời, biên lai nộp dự phí, án phí và các tài liệu liệu đương sự nộp cùng đơn khởi kiện.

+ Thời hiệu khởi kiện: Việc xác định thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định theo quy định tại Điều 104 Luật TTHC.

+ Vụ việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hay chưa?

+ Khiếu kiện có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 28 Luật TTTHC không?

- Xác định tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện:

+ Đối với quyết định hành chính bị khởi kiện, Kiểm sát viên phải nghiên cứu chi tiết ngày, tháng, năm ban hành, thẩm quyền ký quyết định, con dấu, chữ ký của người có thẩm quyền đối chiếu với các quy định của pháp luật để xem xét văn bản đó có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?

+ Đối với hành vi hành chính bị khởi kiện, Kiểm sát viên phải nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ công vụ của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đang bị khởi kiện, để xác định hành vi hành chính đang bị khởi kiện có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?

- Xác định nội dung tranh chấp, quan hệ tranh chấp: Xác định nội dung yêu cầu khởi kiện cũng như nội dung yêu cầu của những người tham gia tố tụng khác, xác định tính hợp pháp, tính có căn cứ của các yêu cầu này. Việc xác định nội dung quan hệ tranh chấp cũng đồng thời với việc xác định tư cách của người khởi kiện, người bị kiện, người đại diện, người được uỷ quyền hoặc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

 

b. Đánh giá chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án:

- Đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ: Kiểm sát viên phải kiểm tra từng loại nguồn chứng cứ và khẳng định nguồn chứng cứ, trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật.

- Xác định chứng cứ có trong hồ sơ đã đầy đủ chưa? Tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá chứng cứ đã đầy đủ là chứng cứ đó đã đủ để chứng minh cho cho yêu cầu của các đương sự tham gia vụ kiện chưa?

- Đối chiếu, phân tích các tài liệu, chứng cứ để làm rõ rõ sự thật khách quan, bản chất trong quan điểm của từng đương sự và bản chất của mâu thuẫn trong nội dung vụ án cần được giải quyết.

- Tập hợp, chuẩn bị những tài liệu, chứng cứ có giá trị chứng minh để có quan điểm đúng về việc giải quyết vụ án.

 

c. Làm rõ các vấn đề về áp dụng pháp luật:

- Xem xét nguyên nhân dẫn đến việc cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ra quyết định hành chính (họăc thực hiện hành vi hành chính) đang bị khởi kiện; quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện gây thiệt hại gì cho người khởi kiện; các văn bản pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ pháp luật đang có tranh chấp là những văn bản nào…

- Xác định yêu cầu khởi kiện có được chấp nhận hay không, chấp nhận những vấn đề gì.

- Đánh giá chứng cứ, xác định sự thật khách quan của yêu cầu khởi kiện trên cơ sở đối chiếu, phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nghiên cứu kỹ quan điểm của các chủ thể tham gia tố tụng (thông qua bản trình bày quan điểm của họ và các lời khai do Toà án lập) để từ đó làm rõ sự thật khách quan của quan hệ đang có tranh chấp, cũng như những mâu thuẫn trong các lời trình bày, lời khai của các đương sự, trên cơ sở đó chuẩn bị lý lẽ, căn cứ pháp lý để bảo vệ hoặc bác bỏ các tài liệu cũng như yêu cầu của các đương sự.

 

4.1.3. Lập hồ sơ kiểm sát

Người được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án phải lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu đầy đủ trung thực lời trình bày của đương sự, sao chụp các tài liệu, chứng cứ do đương sự nộp hoặc do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án.

- Hồ sơ kiểm sát phải bao gồm các tài liệu phản ánh đầy đủ hoạt động tiến hành tố tụng của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và những người tham gia tố tụng khác. Hồ sơ kiểm sát được lập bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được văn bản thông báo thụ lý vụ án của Toà án nhân dân và kết thúc khi Kiểm sát viên hoàn thành việc kiểm sát bản án, quyết định do Toà án cùng cấp gửi đến.

- Các tài liệu chứng cứ cần có trong hồ sơ kiểm sát là:

+ Đơn khởi kiện của đương sự, biên lai thu dự phí án phí sơ thẩm, quyết định hành chính bị khởi kiện (nếu đương sự khởi kiện hành vi hành chính thì hành vi này phải được nêu trong đơn khởi kiện);

+ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai (nếu có), các tài liệu thể hiện việc đương sự đã khiếu nại nhưng không được giải quyết, các tài liệu, chứng cứ do người bị khởi kiện cung cấp nhằm bác lại yêu cầu khởi kiện cũng như các tài liệu chứng minh cho yêu cầu phản tố của họ, các tài liệu do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp…(những tài liệu chứng cứ này cần được phô tô).

+ Trích lục những lời trình bày hoặc khai nhận của những người tham gia tố tụng khác, nhưng phải bảo đảm tính đầy đủ, khách quan, toàn diện.

Các tài liệu có trong hồ sơ kiểm sát phải được đánh số thứ tự theo thời gian và lập bản kê danh mục tài liệu theo quy định về công tác văn thư lưu trữ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

4.1.4. Chuẩn bị đề cương để tham gia hỏi tại phiên toà.

- Kiểm sát viên phải chuẩn bị câu hỏi cho từng đương sự, từng vấn đề còn đang có mâu thuẫn, tranh chấp; có câu hỏi nhằm xác định giá trị chứng minh của tài liệu, có câu hỏi nhằm làm rõ sự thật khách quan của nội dung đang có tranh chấp.

- Câu hỏi mà Kiểm sát viên đưa ra phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu tập trung vào vấn đề cần làm sáng tỏ và phù hợp vào từng đối tượng được hỏi.

 

2.1.4. Dự thảo quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát để trình bày tại phiên toà.

- Dự thảo quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phải nêu được các vấn đề sau:

+ Loại việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 28 Luật TTHC?

+ Việc thụ lý và giải quyết vụ án của Toà án đã đúng với quy định tại các điều 29, 30 Luật TTHC chưa?

+ Người khởi kiện có phải là người bị thiệt hại do quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đang bị khởi kiện gây ra theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Luật TTHC không?

+ Đối tượng khởi kiện, điều kiện khởi kiện đã đầy đủ theo quy định tại Điều 103 Luật TTHC?

+ Thời hiệu khởi kiện còn hay hết theo quy định tại Điều 104 Luật TTHC?

 

- Dự thảo ý kiến được thông qua Lãnh đạo Viện trước khi Kiểm sát viên tham gia phiên toà.