I. KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO THỦ TỤC SƠ THẨM

1. Kiểm sát việc thụ lý, chuyển hồ sơ vụ án hành chính và trả lại đơn khởi kiện của Tòa án

- Theo quy định tại Điều 125 - Luật TTHC, sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu Thẩm phán được phân công xem xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ án, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Tòa án thụ lý vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý.

Điều 126 - Luật TTHC quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.

Khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên được phân công thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát thông báo thụ lý theo những quy định của pháp luật. Đồng thời, để kiểm sát việc thụ lý vụ án hành chính của Tòa án có đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công thực hiện nhiệm vụ kiểm sát cần căn cứ vào các Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Luật TTHC, nếu phát hiện việc Tòa án thụ lý vụ án sai thẩm quyền thì báo cáo Lãnh đạo Viện thực hiện quyền kiến nghị. Theo dõi thời hạn giải quyết vụ án của Tòa án thông qua việc nhận được các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Báo cáo Lãnh đạo Viện cử Kiểm sát viên, Kiểm sát viên dự khuyết tham gia việc giải quyết vụ án và thông báo cho Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 128 Luật TTHC.

- Đối với trường hợp trả lại đơn khởi kiện thì Viện kiểm sát thực hiện hoạt động kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện nếu thấy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 - Luật TTHC thì ra văn bản trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, trong đó ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Theo quy định tại Điều 6 - Quy chế công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, sau khi nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án cùng cấp, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được văn bản, Viện kiểm sát phải tiến hành xem xét, nếu thấy việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng thì thực hiện quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 124 - Luật TTHC. Ngay sau khi nhận được kiến nghị của VKS cùng cấp về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét giải quyết kiến nghị. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét kiến nghị với sự tham gia của đại diện VKS. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của Thẩm phán trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời kiến nghị của Thẩm phán, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 124 - Luật TTHC. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị của VKS về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp phải ra quyết định giải quyết. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.

Thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 130 - Luật TTHC, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Trường hợp ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định. Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Việc chuyển hồ sơ vụ án hành chính được thực hiện theo quy định tại Điều 4 - Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT - VKSNDTC - TANDTC ngày 31/8/2016 “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTHC và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính”

2. Kiểm sát việc ra hoặc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án

- Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.

- Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết vụ án hành chính bao gồm: Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; tạm dừng việc thực hiện hành vi hành chính và cấm hoặc buộc thực hiện những hành vi nhất định. Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án xem xét quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.

- Khi nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, văn bản thông báo về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công thực hiện hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính phải tiến hành kiểm sát các quyết định, văn bản trên, nếu có căn cứ cho rằng Tòa án ban hành các văn bản trên không đúng quy định của pháp luật thì thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Điều 76 - Luật TTHC.

3. Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ

- Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Viện kiểm sát xét thấy cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án có căn cứ và đúng pháp luật thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 84 - Luật TTHC. Tòa án thực hiện các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 84 - Luật TTHC.

- Trước khi mở phiên tòa, Viện kiểm sát gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ đến Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Văn bản yêu cầu phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó. Tòa án gửi cho Viện kiểm sát bản sao tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập được trước khi mở phiên tòa. Nếu tại phiên tòa, Tòa án mới nhận được tài liệu, chứng cứ đó thì Tòa án công bố tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 182 - Luật TTHC.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ phải nêu rõ chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó. Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên tại phiên tòa và việc Hội đồng xét xử chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Trường hợp đã hoãn phiên tòa, nhưng việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên là không thể thực hiện được hoặc Hội đồng xét xử thấy không cần thiết thì Hội đồng xét xử thông báo cho Kiểm sát viên bằng văn bản trước ngày Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Thông báo nêu rõ lý do không thể thực hiện được việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên hoặc lý do Hội đồng xét xử thấy không cần thiết.

4. Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi tham gia phiên tòa

Trước khi tham gia phiên toà, Kiểm sát viên được Viện trưởng phân công tham gia phiên toà phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm vững nội dung và những tình tiết của vụ án, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để chủ động trước các diễn biến bất thường có thể xảy ra tại phiên toà, hoàn chỉnh hồ sơ kiểm sát, chuẩn bị đề cương để tham gia hỏi tại phiên toà, dự thảo ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Được thực hiện theo quy định tại Điều 147 - Luật TTHC và Điều 4 - Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT - VKSNDTC – TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao “hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTHC về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính, cụ thể:

- Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án

Hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án nhằm giúp Kiểm sát viên nắm được nội dung khởi kiện của đương sự thuộc lĩnh vực nào trong hoạt động quản lý hành chính, việc thụ lý của Tòa án có đúng không. Việc lập hồ sơ vụ án của Thẩm phán cũng như nội dung và hành vi tố tụng của những người tham gia tố tụng có đúng quy định của pháp luật không. Việc nhận hồ sơ và thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia phiên tòa, phiên họp của Viện kiểm sát được thực hiện theo quy định tại Điều 147 Luật TTHC và Điều 4, 5 - Thông tư liên tịch số 03/2016. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải làm rõ những vấn đề sau:

+ Xem xét việc thực hiện các thủ tục tố tụng của Toà án

+ Xem xét toàn bộ nội dung vụ án

+ Đánh giá việc giao nộp, xác minh và thu thập chứng cứ

- Chuẩn bị đề cương để tham gia hỏi tại phiên toà

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 177 Luật TTHC thì tại phiên toà, sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề được thực hiện theo thứ tự: Người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, tiếp đến người bị kiện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện, đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Việc hỏi của Kiểm sát viên tại phiên toà để làm rõ những nội dung của vụ án. Kiểm sát viên có thể hỏi người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng (theo quy định từ Điều 178 đến Điều 181 Luật TTHC).

- Dự thảo ý kiến phát biểu

Theo quy định Điều 190 Luật TTHC, tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về hai vấn đề đó là: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghị án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán

Đây là nội dung phát biểu mà Kiểm sát viên cần chuẩn bị trước trong quá trình kiểm sát lập hồ sơ vụ án hành chính của Toà án. Ở nội dung này Kiểm sát viên nhận xét về việc tuân theo pháp luật việc nhận đơn kiện hay trả lại đơn kiện (Điều 121, Điều 123 Luật TTHC); thụ lý hoặc không thụ lý vụ án hành chính (Điều 125 Luật TTHC); nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Điều 131 Luật TTHC); thông báo thụ lý vụ án (Điều 126 Luật TTHC); xác minh, thu thập chứng cứ (từ Điều 84 đến Điều 91 Luật TTHC); áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (từ Điều 69 đến Điều 71 Luật TTHC); thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 73 Luật TTHC); thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 74 Luật TTHC); thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều 130 Luật TTHC; lập hồ sơ vụ án hành chính (Điều 132 Luật TTHC); quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 146 Luật TTHC); gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu (Điều 147 Luật TTHC); việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng có theo quy định tại các điều từ điều 104 đến điều 109 Luật TTHC….

+ Sự chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

Đối với người khởi kiện: KSV xem xét người khởi kiện đã cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo quy định tại Điều 9, Điều 55 và Điều 78 Luật TTHC không; những chứng cứ do đương sự cung cấp có thuộc nguồn chứng cứ (Điều 81 Luật TTHC) và được giao nộp đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật TTHC không.

Đối với người bị kiện: Đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 55, Điều 57, Khoản 2 Điều 78 Luật TTHC không; việc giao nộp chứng cứ có đúng quy định tại các điều 83, 84 Luật TTHC không…

Đối với những người tham gia tố tụng khác: Có thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các điều từ Điều 58 đến Điều 64 Luật TTHC không.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên

Trên cơ sở phân tích tài liệu chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa, KSV đưa ra quan điểm giải quyết vụ án.

+ Kiến nghị của Kiểm sát viên (nếu có)

Trong bản dự thảo ý kiến phát biểu, KSV xác định những hành vi tố tụng đúng pháp luật và những hành vi vi phạm pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng để chuẩn bị phát biểu ý kiến tại tòa. Dự thảo ý kiến được thông qua Lãnh đạo Viện trước khi Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

- Lập hồ sơ kiểm sát

Theo quy định tại khoản 3, Điều 8 Quy chế kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, thì người được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án phải lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu đầy đủ, trung thực lời trình bày của các đương sự, sao chụp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ do các đương sự nộp hoặc do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hồ sơ kiểm sát bao gồm các tài liệu: Đơn khởi kiện của đương sự, các tài liệu chứng cứ làm cơ sở để giải quyết vụ án, đề cương xét hỏi, dự thảo phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát. Các tài liệu có trong hồ sơ kiểm sát phải được đánh số thứ tự theo thời gian và lập bản kê danh mục tài liệu theo quy định về công tác văn thư lưu trữ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

5 Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng hành chính. Cụ thể:

- Kiểm tra tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng.

- Kiểm tra tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng.

- Kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên toà.

- Theo dõi và ghi chép diễn biến phiên toà.

- Kiểm sát viên tham gia hỏi.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Kiểm sát viên phải ghi chép diễn biến phiên tòa, khi Chủ toạ phiên toà tuyên án, Kiểm sát viên cần chú ý nghe và ghi chép nhanh phần nhận định, những căn cứ pháp luật mà Hội đồng xét xử dựa vào đó để đưa ra quyết định giải quyết vụ án để có cơ sở cho hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Toà án sau phiên toà.

6. Hoạt động của Kiểm sát viên sau phiên tòa

Theo quy định tại khoản 9, Điều 8 - Quy chế kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, sau phiên toà Kiểm sát viên có nhiệm vụ báo cáo kết quả xét xử với Lãnh đạo Viện, nếu quyết định giải quyết vụ án của hội đồng xét xử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về nội dung hoặc về tố tụng thì đề xuất bằng văn bản việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; trong trường hợp hết thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp mình thì báo cáo Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm phải được làm thành hai bản, một bản báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên, một bản báo cáo Lãnh đạo Viện và lưu trong hồ sơ kiểm sát. Nội dung báo cáo phải nêu tính có căn cứ, hợp pháp (hay không hợp pháp) của quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án được Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà.

Đồng thời với các hoạt động trên, Kiểm sát viên đã tham gia phiên tòa phải hoàn chỉnh bản phát biểu ý kiến của mình, ký tên, đóng dấu và gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên tòa để lưu vào hồ sơ vụ án.

Khi nhận được bản án, quyết định sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp sơ thẩm phải sao gửi ngay 01 bản kèm theo phiếu kiểm sát bản án, quyết định, thông báo việc kháng cáo (nếu có) cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm để Viện kiểm sát cấp phúc thẩm thực hiện quyền năng pháp lý theo thẩm quyền.