2.1. Công tác kiểm sát thi hành án hình sự.

2.1.1. Kiểm sát việc ban hành quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án.

Để bảo đảm việc thi hành án kịp thời, nghiêm minh, KSV phải nắm được ngày Tòa án ra quyết định thi hành án, gửi quyết định thi hành án. Theo đó, VKS kiểm sát:

- Kiểm sát việc chấp hành thời hạn và thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác ra quyết định thi hành án

- Kiểm sát việc chấp hành thời hạn gửi và nơi gửi quyết định thi hành án của Tòa án:

- Kiểm sát quyết định thi hành án phạt tù:

 Để kiểm sát vấn đề này, Viện kiểm sát cần theo dõi thời điểm bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Chủ động nắm bắt các bản án có hiệu lực pháp luật và thông qua quan hệ phối hợp với công tác kiểm sát xét xử hình sự. Mặt khác, cần chủ động nắm bắt các trường hợp Tòa án ủy thác thi hành án để biết thời điểm bản án được ủy thác và thời điểm phải ra quyết định thi hành án. Chủ động nắm bắt các quyết định thi hành án của Tòa án, yêu cầu Tòa án cung cấp đầy đủ các quyết định đó hoặc thông qua việc áp dụng quyền "yêu cầu" để kiểm sát việc Tòa án ra quyết định thi hành án. Ngoài ra, các Viện kiểm sát cần có sổ theo dõi việc ra quyết định thi hành án để ghi chép, cập nhật thường xuyên và đầy đủ các quyết định thi hành án của Tòa án. Thông qua việc ghi chép sổ sách đầy đủ, Kiểm sát viên có thể phát hiện ra những bản án chưa có quyết định thi hành án, thời hạn ra quyết định đã hết hay sắp hết để có biện pháp kịp thời tác động.

2.1.2. Kiểm sát việc hoãn chấp hành hình phạt tù

- Kiểm sát việc áp dụng các điều kiện cho hoãn chấp hành hình phạt tù:

 Kiểm sát viên phải kiểm sát việc áp dụng các điều kiện cho hoãn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 261 BLTTHS, Điều 23 Luật THAHS, khoản 1 Điều 61 BLHS và được hướng dẫn tại Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao h­ướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP)

- Kiểm sát việc chấp hành thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù. Theo khoản 1 Điều 61 BLHS và Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP, thời hạn hoãn chấp hành đối với từng trường hợp như sau:

+ Người bị xử phạt tù bị bệnh nặng được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi sức khoẻ hồi phục.

 + Người bị xử phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù mà người bị kết án lại có thai hoặc phải tiếp tục nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì vẫn được hoãn cho đến khi đứa con sau cùng đủ 36 tháng tuổi.

+ Người bị xử phạt tù là người lao động duy nhất trong gia đình hoặc do nhu cầu công vụ được hoãn một lần hoặc nhiều lần, nhưng tổng số thời gian được hoãn tối đa là một năm.

- Kiểm sát thủ tục đề nghị và quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù:

Kiểm sát viên phải kiểm sát thủ tục đề nghị và quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 23 Luật THAHS.

- Kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù của Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù:

Kiểm sát việc thực hiện thẩm quyền đề nghị hoãn và nội dung hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù. Theo quy định tại Điều 23 Luật THAHS và tiểu mục 1.3 mục III Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của BLTTHS (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP), Cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù, thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù.

- Kiểm sát việc thi hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thi hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù của Tòa án. Nội dung kiểm sát việc thi hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù bao gồm các hoạt động sau:

 + Kiểm sát việc ngừng làm thủ tục đưa người chấp hành án phạt tù đi chấp hành án:

+ Kiểm sát việc quản lý người được hoãn chấp hành án của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ quản lý người được hoãn chấp hành án:

- Kiểm sát việc chấp hành thủ tục đề nghị, quyết định hủy bỏ quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù:

- Kiểm sát việc ra quyết định đình chỉ thi hành án của Tòa án và giải quyết các thủ tục có liên quan trong trường hợp người được hoãn chấp hành án chết:

- Kiểm sát việc ra thông báo và gửi thông báo hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù:

- Kiểm sát việc cơ quan công an áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù trong trường hợp hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt mà người bị kết án không có mặt tại Cơ quan Công an mà không có lý do chính đáng:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc cơ quan công an áp giải người bị kết án trong trường hợp sau khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, họ không có mặt tại cơ quan Công an để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 261 BLTTHS.

 2.1.3. Kiểm sát việc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

- Kiểm sát việc áp dụng các điều kiện để tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc áp dụng các điều kiện để tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Theo quy định tại Điều 62 BLHS, người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 61 BLHS (quy định về các trường hợp có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù), thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Điều kiện tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được hướng dẫn cụ thể tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch 02/2013).

- Kiểm sát việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện thẩm quyền và trách nhiệm lập hồ sơ áp dụng các thủ tục đề nghị và quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 31 Luật THAHS

- Kiểm sát hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

Viện kiểm sát kiểm sát hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, bao gồm: phạm nhân bị bệnh nặng,phạm nhân là phụ nữ có thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi, phạm nhân là lao động duy nhất trong gia đình, phạm nhân do nhu cầu công vụ. Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đảm bảo đầy đủ các loại theo hướng dẫn tại Điều 9 Thông tư liên tịch 03/2013.

- Kiểm sát việc chấp hành thời hạn xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành thời hạn xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật THAHS và Hướng dẫn tại mục 2.2 Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP, Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2013

- Kiểm sát việc thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc gửi quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; bàn giao, quản lý, tiếp tục thi hành án đối với người được tạm đình chỉ; chấm dứt việc tạm đình chỉ, truy nã, truy bắt người được tạm đình chỉ bỏ trốn; giải quyết đối với trường hợp người được tạm đình chỉ chết được thực hiện theo Điều 32 Luật THAHS và Điều 12 Thông tư liên tịch 03/2013.

2.1.4. Kiểm sát việc thi hành quyết định thi hành án phạt tù

- Kiểm sát việc tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án đang bị tạm giam và việc ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành thời hạn, thẩm quyền tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án đang bị tạm giam và thời hạn, thẩm quyền ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật THAHS.

 - Kiểm sát việc chấp hành thời hạn có mặt của người bị kết án phạt tù đang tại ngoại để thi hành án và việc áp giải trong trường hợp người đó không có mặt để thi hành án:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành thời hạn có mặt của người bị kết án phạt tù đang tại ngoại để thi hành án và việc thực hiện áp giải trong trường hợp người đó không có mặt để thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 22 Luật THAHS.

- Kiểm sát việc thực hiện yêu cầu ra quyết định truy nã trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn:

 Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện trách nhiệm yêu cầu ra quyết định truy nã trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn theo quy định tại khoản 4 Điều 256 BLTTHS và Điều 10 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã.

- Kiểm sát việc thực hiện nghĩa vụ để người bị kết án đang bị tạm giam gặp người thân thích trước khi thi hành án và việc thông báo cho gia đình người bị kết án đang bị tạm giam biết nơi người đó chấp hành hình phạt:

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện nghĩa vụ cho người bị kết án đang bị tạm giam gặp người thân thích trước khi thi hành án và thông báo cho gia đình người bị kết án đang bị tạm giam biết nơi người đó chấp hành hình phạt theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 260 BLTTHS.

2.1.5. Kiểm sát việc đảm bảo các thủ tục pháp luật trong thi hành án phạt tù

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc lập hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù theo quy định tại Điều 25 Luật THAHS  và khoản 2 Điều 7 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ.

Kiểm sát viên kiểm sát việc tiếp nhận người chấp hành án phạt tù đúng quy định của pháp luật; phải có hồ sơ phạm nhân, trong hồ sơ phải đầy đủ theo Nghị định số 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ quy định về tổ chức quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 117/2011/NĐ-CP) và các điều 25, 26 và 41 Luật THAHS. Việc lập hồ sơ phạm nhân theo đúng quy định tại Thông tư số 63/2011/TT-BCA ngày 7/9/2011 của Bộ Công an quy định các loại biểu mẫu, sổ sách về công tác thi hành án hình sự.

Kiểm sát viên kiểm sát bảo đảm việc cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù cho phạm nhân theo đúng quy định của pháp luật, việc thông báo trước 2 tháng khi phạm nhân chấp hành xong hình phạt tù (thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện và UBND xã nơi phạm nhân về cư trú, cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú, làm việc, cơ quan nhận phạm nhân trích xuất theo Điều 40 Luật THAHS và Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 Quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong APT)

Kiểm sát viên kiểm sát bảo đảm các thủ tục khi phạm nhân chết; khi được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, miễn chấp hành hình phạt tù, trích xuất... (Điều 49, 32, 33, 34, 35 Luật THAHS).

2.1.6. Kiểm sát việc tổ chức giam giữ và thực hiện chế độ quản lý, giam giữ phạm nhân

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tổ chức giam giữ phạm nhân theo quy định tại Điều 27 Luật THAHS.

Về quy mô giam giữ phạm nhân của trại giam, theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP, thì tại mỗi trại giam thuộc Bộ Công an quản lý từ 2.000 phạm nhân đến 5.000 phạm nhân. Trường hợp đặc biệt do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định. Mỗi trại giam được thành lập một số phân trại giam, mỗi phân trại giam quản lý nhiều nhất là 1.000 phạm nhân. Quy mô giam giữ phạm nhân tại mỗi trại giam thuộc Bộ Quốc phòng quản lý nhiều nhất là 500 phạm nhân.

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ quản lý, giam giữ phạm nhân.

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP, căn cứ vào số lượng phạm nhân, tính chất tội phạm, mức án, độ tuổi, giới tính, sức khỏe, đặc điểm nhân thân của phạm nhân và yêu cầu nghiệp vụ, Giám thị trại giam quyết định việc phân loại phạm nhân để tổ chức quản lý, giam giữ và bố trí lực lượng canh gác, bảo vệ, dẫn giải phạm nhân theo quy định của pháp luật. Phạm nhân phải được giam giữ trong buồng giam theo quy định, khi ra khỏi buồng giam phải có lệnh của Giám thị trại giam. Trước khi phạm nhân vào buồng giam và sau khi mở cửa buồng giam cho phạm nhân ra ngoài, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ được giao trách nhiệm phải điểm danh, kiểm diện. Cán bộ, nhân viên trại giam không có nhiệm vụ và mọi người khác nếu không được phép của Giám thị trại giam không được vào khu vực buồng giam, không được tiếp xúc với phạm nhân.

Trại giam phải được bảo vệ nghiêm ngặt và an toàn, có lực lượng vũ trang bảo vệ, tuần tra, canh gác 24/24 giờ. Các buồng giam phải được xây dựng chắc chắn, có đủ ánh sáng và bảo đảm vệ sinh môi trường. Việc bảo vệ trại giam và dẫn giải phạm nhân thực hiện theo Thông tư số 68/2011/TT-BCA ngày 07/10/2011 của Bộ Công an quy định về hoạt động vũ trang bảo vệ trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và dẫn giải phạm nhân.

2.1.7. Kiểm sát việc thực hiện chế độ ở, ăn, mặc và tư trang, chế độ sinh hoạt, chế độ chăm sóc y tế của phạm nhân

-  Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ ở của phạm nhân.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 42 Luật THAHS, Điều 9 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP, thì những phạm nhân sau phải được bố trí ở riêng: Phạm nhân là người có bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm; phạm nhân có dấu hiệu bị bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án; phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy, quy chế trại giam. Các phạm nhân khác được bố trí  ở theo buồng giam tập thể. Hiện nay, đối với trường hợp phạm nhân đã chuyển đổi giới tính hoặc đồng tính phải được giam giữ riêng đề xác định lại giới tính theo hướng dẫn số 2746/C81-C84 ngày 22/10/2012 của Tổng cục VIII Bộ Công an hướng dẫn thực hiện việc giam giữ với các đối tượng bị tạm giữ, tạm giam và phạm nhân đã chuyển đổi giới tính hoặc đồng tính gây khó khăn cho việc phân loại giam giữ ở các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam.

Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 mét vuông (2 m2), có bệ gạch men, ván sàn hoặc giường. Đối với phạm nhân có con nhỏ ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 mét vuông (3 m2), có bệ gạch men, ván sàn hoặc giường.

Đối với phạm nhân là người chưa thành niên, theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP, chỗ nằm tối thiểu là 03 mét vuông (3 m2), có ván sàn hoặc giường.

Phạm nhân phải ở trong buồng giam theo thời gian quy định và chỉ được ra khỏi buồng giam theo nội quy trại giam hoặc khi có lệnh của Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Trước và sau khi phạm nhân ra, vào buồng giam, cán bộ, chiến sĩ được giao trách nhiệm phải điểm danh, kiểm diện.

Cán bộ, chiến sĩ, nhân viên trại giam và người không có nhiệm vụ không được vào khu vực giam giữ, không được tiếp xúc với phạm nhân khi chưa được phép của Giám thị trại giam.

-  Kiểm sát viên phải kiểm sát sự tuân theo pháp luật về việc thực hiện chế độ ăn của phạm nhân theo quy định tại Điều 42 và Điều 52 Luật THAHS.

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ mặc và tư trang đối với phạm nhân theo quy định tại Điều 43 Luật THAHS và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP.

-  Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ sinh hoạt đối với phạm nhân theo các quy định tại Điều 44 và khoản 3 Điều 52 Luật THAHS. Thời gian hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình của phạm nhân được thực hiện theo Nghị định số 117/2011/NĐ-CP; Thông tư số 11/TTLB ngày 20 tháng 12 năm 1993 của Liên Bộ Nội vụ, Quốc phòng, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hóa, dạy nghề, chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT ngày 6/2/2012 hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân.

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân theo quy định tại Điều 48 Luật THAHS.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 117/2011/NĐ-CP, chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng do cơ sở chữa bệnh chỉ định theo bệnh lý và theo mức độ nặng, nhẹ của bệnh tật. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường hàng ngày cho phạm nhân được cấp tương đương 02 kg gạo/01 người/01 tháng. Phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS được chăm sóc, điều trị theo quy định của pháp luật. Việc khám, chữa bệnh cho phạm nhân được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT-BCA-BTC-BYT ngày 24/2/2003 của Bộ Công an, Bộ Tài chính và Bộ y tế hướng dẫn công tác quản lý chăm sóc, điều trị, tư vấn người bị tạm giam; phạm nhân, trại viên, học sinh bị nhiễm HIV/AIDS trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng và Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BCA-BYT ngày 09/8/2010 của Bộ Công an, Bộ y tế hướng dẫn việc khám, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục, học sinh trường giáo dưỡng.

2.1.8. Kiểm sát việc thực hiện chế độ gặp thân nhân, nhận quà và chế độ liên lạc của phạm nhân.

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ gặp thân nhân, nhận quà, chế độ liên lạc của phạm nhân theo đúng quy định tại các điều 46, 47, 53 Luật THAHS; Thông tư số 46/2011/TT-BCA ngày 30/6/2011 của Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân và Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BCA-BQP-BNG ngày 13/2/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ ngoại giao hướng dẫn việc thăm, gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân;

2.1.9. Kiểm sát việc thực hiện chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi theo quy định tại Điều 45 Luật THAHS.

2.1.10. Kiểm sát việc thực hiện chế độ học tập, học nghề và được thông tin của phạm nhân.

 Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thực hiện chế độ học tập, học nghề và được thông tin của phạm nhân theo quy định tại Điều 28 Luật THAHS. Thông tư số 11/TTLB  ngày 20/12/1993 của Liên bộ: Nội vụ, Quốc phòng, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hóa, nghề, chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT ngày 6/2/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ tư pháp, Bộ Giáo dục và đào tạo hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân (thay thế các mục I, II, IV Thông tư liên bộ số 11TTLB).

2.1.11. Kiểm sát việc thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân.

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân theo quy định tại Điều 29, Điều 30, khoản 3 Điều 51 Luật THAHS và Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BTC-BCA-BQP ngày 12/1/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động, dạy nghề phạm nhân trong các trại giam

2.1.12. Kiểm sát việc trích xuất phạm nhân

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc trích xuất phạm nhân theo quy định tại Điều 35 Luật THAHS và Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30/05/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử.

2.1.13. Kiểm sát việc giải quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn và xử lý phạm nhân vi phạm

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc giải quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn theo quy định tại Điều 37 Luật THAHS.

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc xử lý phạm nhân vi phạm theo quy định tại Điều 38 Luật THAHS.

2.1.14. Kiểm sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về thông báo tình hình chấp hành án và việc trả tự do cho phạm nhân

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thông báo tình hình chấp hành án.

Theo khoản 1 Điều 39 Luật THAHS, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm định kỳ 06 tháng một lần thông báo tình hình chấp hành án của phạm nhân cho thân nhân của họ.

- Kiểm sát phải kiểm sát việc chấp hành thời hạn thông báo các thông tin liên quan đến việc chấp hành án phạt tù của phạm nhân và việc chấp hành các thủ tục trả tự do cho phạm nhân theo quy định tại Điều 40 Luật THAHS

2.1.15. Kiểm sát thi hành quyết định tiếp nhận, chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam để chấp hành án và việc thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thi hành quyết định tiếp nhận đối với người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam để chấp hành án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật THAHS và Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC ngày 15/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù, khi có quyết định thi hành quyết định tiếp nhận chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao từ nước ngoài về Việt Nam để chấp hành án, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp tổ chức tiếp nhận và bàn giao người bị kết án cho trại giam theo quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.

Chế độ quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, xem xét giảm án, tha tù, đặc xá, đại xá người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài

Theo quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật THAHS và Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC ngày 15/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù, khi nhận được quyết định thi hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài, trại giam có trách nhiệm bàn giao phạm nhân cho Cảnh sát hỗ trợ tư pháp. Việc bàn giao phải được lập biên bản, lưu hồ sơ;

Cảnh sát hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ áp giải người được chuyển giao đến địa điểm và vào thời gian do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước yêu cầu chuyển giao thỏa thuận trước bằng văn bản.

2.1.16. Kiểm sát việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù

-    Kiểm sát viên phải kiểm sát việc quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 58 BLHS và Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/5/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 33 Luật THAHS và được hướng dẫn tại Chương III TTLT 02/2013.

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành thời hạn mở phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và trực tiếp tham gia phiên họp giải quyết việc xét giảm theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật THAHS,

- Kiểm sát viên phải kiểm sát việc gửi quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật THAHS

 Để thực hiện chức năng kiểm sát việc xét giảm, Kiểm sát viên phải lập hồ sơ theo dõi, quản lý đối với mỗi trường hợp được xét giảm chấp hành án phạt tù. Trong hồ sơ cần phải có các thông tin, tài liệu sau: Họ tên bị án được xét giảm, thời gian chấp hành án, thời điểm xét giảm hình phạt, số thời gian được giảm; Các tài liệu liên quan đến việc xét giảm (văn bản đề nghị xét giảm của cơ quan có thẩm quyền; văn bản, tài liệu khác liên quan đến việc xác định điều kiện được xét giảm. . . ).

* CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH KIỂM SÁT TRỰC TIẾP:

Chuẩn bị:

- Trước khi tiến hành cuộc kiểm sát định kỳ và đột xuất việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án phạt tù của cơ quan thi hành án phạt tù (tại trại giam, trại tạm giam), Kiểm sát viên phải tập hợp tất cả các thông tin thu nhận được về tình hình chấp hành pháp luật tại đó trong thời điểm cần kiểm sát để có căn cứ xây dựng kế hoạch kiểm sát. Các nguồn thông tin có thể là kết quả theo dõi hoạt động quản lý và giáo dục ngư­ời chấp hành án phạt tù của đơn vị mình, qua hồ sơ, tài liệu liên quan, qua báo cáo của ngư­ời có trách nhiệm, qua kiến nghị của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, qua khiếu nại, tố cáo của người chấp hành hình phạt tù hoặc thân nhân của họ và của công dân, qua các phương tiện thông tin đại chúng. Sau đó, Kiểm sát viên phải xây dựng nội dung cần tiến hành kiểm sát.

- Kiểm sát viên viết dự thảo Quyết định kiểm sát và kế hoạch kiểm sát. Kế hoạch kiểm sát phải cụ thể, chi tiết về nội dung, nêu rõ những vấn đề cần tiến hành kiểm sát (những lĩnh vực mà Kiểm sát viên đã có thông tin về vi phạm hoặc thường hay xảy ra vi phạm) và thời gian kiểm sát. Trong trường hợp cần cung cấp số liệu, hồ sơ, tài liệu liên quan phục vụ cho cuộc kiểm sát thì Kiểm sát viên phải nêu rõ trong kế hoạch và phải báo cáo lãnh đạo đơn vị phê duyệt trước khi ban hành. Quyết định và kế hoạch kiểm sát, dự kiến lịch làm việc phải đ­ược gửi tr­ước cho cơ quan có nhiệm vụ thi hành án phạt tù (trại giam, trại tạm giam) để có thời gian chuẩn bị. 

- Dự kiến cán bộ thực hiện theo kế hoạch kiểm sát và chuẩn bị phương tiện, vật chất cần thiết phục vụ trực tiếp kiểm sát.

Tổ chức thực hiện cuộc kiểm sát:

- Khi tiến hành cuộc kiểm sát, Kiểm sát viên cùng cơ quan thi hành án phạt tù thông qua nội dung ch­ương trình cuộc kiểm sát, thành phần tham gia và các yêu cầu liên quan phục vụ cuộc kiểm sát (yêu cầu cung cấp hồ sơ, sổ sách, số liệu, tài liệu liên quan, cán bộ phối hợp với đoàn kiểm sát…).

- Nghe cơ quan thi hành án phạt tù báo cáo về số liệu, tình hình hoạt động, tình hình chấp hành pháp luật, những ưu điểm, tồn tại trong việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù của cơ quan đó trong thời điểm kiểm sát, những đề xuất, kiến nghị của cơ quan có nhiệm vụ thi hành án phạt tù (nếu có). Sau khi nghe báo cáo, Kiểm sát viên có thể hỏi hoặc yêu cầu báo cáo cụ thể những vấn đề chưa rõ.

- Khi tiến hành kiểm sát thì Kiểm sát viên kiểm tra hồ sơ, sổ sách, tài liệu, xem xét thực tế nơi quản lý, giáo dục phạm nhân, nơi lao động, nơi thăm gặp, buồng kỷ luật, căng tin, trạm xá, gặp hỏi ng­ười chấp hành án phạt tù…

- Các hoạt động kiểm sát đều phải đư­ợc ghi chép, lập hồ sơ, lập biên bản (nếu cần thiết) có ký xác nhận của đoàn kiểm sát và cơ quan thi hành án phạt tù để phục vụ cho kết luận và kiến nghị, kháng nghị.

Tổng hợp, xây dựng kết luận:

- Sau khi thu thập được các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung kiểm sát, Kiểm sát viên tổng hợp tình hình chấp hành pháp luật trong công tác quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của cơ quan thi hành án phạt tù; đối chiếu với các quy định của pháp luật để xác định những ưu điểm, vi phạm; xác định nguyên nhân của những ưu điểm, vi phạm; tiến hành phân loại các vi phạm, tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm theo quy định tại điều, khoản của văn bản pháp luật nào để xác định kiến nghị, kháng nghị hay yêu cầu khởi tố..., từ đó xây dựng dự thảo kết luận.

- Xây dựng bản kết luận: Bản kết luận kiểm sát trực tiếp việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án phạt tù của cơ quan thi hành án phạt tù là một văn bản pháp lý làm cơ sở để kháng nghị, kiến nghị cơ quan có vi phạm để yêu cầu đình chỉ, bãi bỏ quyết định vi phạm pháp luật, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù. Bản kết luận gồm 3 phần:

+ Phần 1: Căn cứ pháp luật để kiểm sát định kỳ và đột xuất việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án phạt tù của cơ quan có nhiệm vụ thi hành án phạt tù.

Phần này cần nêu căn cứ pháp lý để tiến hành kiểm sát gồm các điều 26, 27, 28, 29 Luật Tổ chức VKSND năm 2002, Điều 141 Luật THAHS. Trong phần này nêu rõ người tiến hành kiểm sát, chức danh pháp lý, chức vụ, thời điểm kiểm sát, thời gian tiến hành cuộc kiểm sát; tóm tắt công việc trong suốt quá trình thực hiện kiểm sát trực tiếp.

+ Phần 2: Phần này nhận xét, đánh giá ưu khuyết điểm, vi phạm và kết luận về việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án phạt tù của cơ quan có nhiệm vụ thi hành án phạt tù.

Kết luận phải đánh giá được những ưu điểm trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý và giáo dục người chấp hành phạt tù về các mặt: tiếp nhận người vào chấp hành án phạt tù, quá trình giáo dục cải tạo, các chế độ và quyền lợi của người chấp hành án, các thủ tục khi họ được trả tự do. Các công tác như quản lý phân loại giam giữ, giáo dục công dân, giáo dục chính trị dạy nghề... mỗi một nội dung đều phải được kết luận đúng sai, cụ thể, nguyên nhân (khách quan, chủ quan), trách nhiệm trong từng vi phạm, căn cứ pháp lý để xác định vi phạm.

+ Phần 3: Kháng nghị, kiến nghị.

Phần này cần nêu rõ, kháng nghị cơ quan thi hành án phạt tù khắc phục vi phạm đối với các vi phạm thuộc trách nhiệm của mình. Các vi phạm thuộc phạm vi trách nhiệm của các cơ quan hữu quan khác sẽ báo cáo hoặc tiến hành kiến nghị riêng.

 Công bố kết luận:

Sau khi thống nhất với cơ quan thi hành án phạt tù về thời gian, địa điểm, Viện kiểm sát tiến hành công bố kết luận. Tại buổi công bố kết luận, Kiểm sát viên phải ghi nhận những ý kiến giải trình của đơn vị được kiểm sát và giải thích, phân tích những ý kiến phản hồi (nếu thấy cần thiết).

Ban hành kết luận chính thức:

Kết luận về cuộc kiểm sát phải thể hiện bằng văn bản và gửi cho đơn vị được kiểm sát, các đơn vị có liên quan.

* KỸ NĂNG PHÁT HIỆN VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC PHƯƠNG THỨC KIỂM SÁT

+ Thu thập tài liệu: Để kiểm sát việc chấp hành pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án phạt tù, Kiểm sát viên cần lập hồ sơ theo dõi quá trình chấp hành pháp luật, làm cơ sở để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như kiểm sát bất thường, yêu cầu tự kiểm tra và báo cáo kết quả, kiểm sát việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát. Việc thu thập tài liệu, thông tin có thể thực hiện qua các nguồn như kết quả theo dõi hoạt động quản lý và giáo dục ngư­ời chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát; hồ sơ, tài liệu có liên quan; báo cáo của ngư­ời có trách nhiệm; kiến nghị của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội; khiếu nại, tố cáo của công dân, của ng­ười chấp hành án phạt tù hoặc thân nhân của họ, qua các ph­ương tiện thông tin đại chúng; nghe cơ quan thi hành án phạt tù báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật trong việc quản lý và giáo dục phạm nhân...

+ Kiểm tra, xác minh vi phạm pháp luật, làm rõ nguyên nhân vi phạm;

Việc kiểm tra, xác minh có thể được thực hiện tại địa phương nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù đang tại ngoại; kiểm tra thực tế tại các buồng giam, buồng kỷ luật, nơi lao động, dạy nghề, nơi thăm gặp, căng tin, bếp, nhà ăn tập thể của phạm nhân... để phát hiện vi phạm trong việc quản lý giam giữ, thực hiện các chế độ đối với phạm nhân.

Kiểm tra hồ sơ, sổ sách, tài liệu về quá trình quản lý, giáo dục phạm nhân. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu khi kiểm sát trực tiếp Trại giam, Trại tạm giam. Qua nghiên cứu hồ sơ phạm nhân, có thể phát hiện được những vi phạm trong quản lý giam, giữ, trong việc thực hiện chế độ đối với phạm nhân cũng như thực hiện các quyền không bị pháp luật tước bỏ của họ. Kiểm sát viên cần kiểm tra các loại hồ sơ có liên quan như: Hồ sơ phạm nhân trốn, phạm nhân chết, trích xuất, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; hồ sơ kỷ luật, phạm tội mới… Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên chú ý so sánh các tài liệu để phát hiện vi phạm, nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến vi phạm, xác định phạm vi trách nhiệm đối với vi phạm được phát hiện.

Kiểm danh, kiểm diện và gặp hỏi phạm nhân khi cần thiết; kiểm tra bệnh xá, gặp hỏi cán bộ y tế về tình hình chăm sóc y tế đối với phạm nhân.

Kiểm tra nơi lao động, dạy nghề cho phạm nhân cũng có thể phát hiện những vi phạm trong việc quản lý và giáo dục phạm nhân, vi phạm trong việc canh gác, dẫn giải hoặc sử dụng phạm nhân (ví dụ: Sử dụng phạm nhân làm việc không đúng với yêu cầu của công tác giáo dục, cải tạo... ).

Các hoạt động của Kiểm sát viên đều phải đư­ợc thể hiện trong hồ sơ thông qua việc ghi chép, sao in, lập biên bản (nếu cần thiết) có chữ ký xác nhận của đoàn kiểm sát và cơ quan thi hành án phạt tù để phục vụ cho việc kết luận và kiến nghị, kháng nghị.

Tùy từng đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà Viện kiểm sát áp dụng các phương thức kiểm sát cho phù hợp.

 - Các vi phạm pháp luật thường gặp trong quá trình thi hành án phạt tù

+ Việc giam giữ người chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật, như đưa vào giam giữ người chấp hành án phạt tù không có lệnh, quyết định của người có thẩm quyền; bản án hết thời hiệu thi hành, đã hết thời hạn chấp hành hình phạt tù mà người bị giam, giữ không bị giam, giữ về hành vi phạm tội khác; đã có quyết định đặc xá, quyết định giảm hết thời hạn chấp hành hình phạt tù, quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án mà vẫn bị giam giữ.

+ Bản án, quyết định, văn bản về việc thi hành hình phạt tù trái pháp luật.

+ Những vi phạm pháp luật khác như vi phạm về chế độ quản lý, giáo dục, dẫn giải phạm nhân; vi phạm chế độ ăn, mặc, ở, khám chữa bệnh, thăm gặp, nhận quà,..., những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, chế độ lao động, học tập và các quyền khác của người chấp hành án phạt tù không bị pháp luật tước bỏ.

 

+ Các vi phạm pháp luật có dấu hiệu của một trong những tội xâm phạm hoạt động tư pháp và liên quan đến giam, giữ, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.