2.3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm.

2.3.1. Hoạt động của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm.

a. Căn cứ, thẩm quyền, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 273, Điều 275, Điều 278

- Quy chế công tác THQCT&KSXXHS (Điều 50, Điều 51,)

- Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm.

Căn cứ Điều 273 BLTTHS thì bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau:

+ Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ.

+ Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án.

+ Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi điều tra, truy tố hoặc xét xử.

+ Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS.

- Thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát theo thủ tục giám đốc thẩm.

Căn cứ Điều 275 BLTTHS và Điều 50 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS thì thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát được xác định như sau:

- Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

- Viện trưởng VKSND tối cao uỷ quyền cho Phó Viện trưởng phụ trách khối ký kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh.

- Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự cấp dưới.

- Viện trưởng VKSND cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới.

- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Căn cứ Điều 278 BLTTHS và Điều 51 Quy chế công tác THQCT&KSXX thì thời hạn kháng nghị được xác định như sau:

- Kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết cần minh oan cho họ.

- Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

b. Hoạt động của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 274, Điều 277, Điều 278, Điều 275, Điều 280)

- Quy chế công tác THQCT&KSXX (Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 58 )

- Nguồn phát hiện vi phạm pháp luật:

Căn cứ Điều 274 BLTTHS thì người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trong trường hợp phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo cho người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm.

Căn cứ Điều 46 Quy chế KSXXHS thì Kiểm sát viên nghiên cứu phát hiện vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở những nguồn sau đây:

+ Báo cáo đề xuất kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp;

+ Đơn đề nghị của người bị kết án và của mọi công dân hoặc kiến nghị của các cơ quan, tổ chức;

+ Các tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng;

+ Kết quả kiểm tra công tác nghiệp vụ.

- Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án và nghiên cứu hồ sơ vụ án.

+ Căn cứ Điều 47 Quy chế KSXXHS thì sau khi phát hiện bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, Kiểm sát viên làm văn bản yêu cầu Toà án đã ra bản án hoặc quyết định đó chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

+ Căn cứ Điều 48 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét các nguồn phát hiện vi phạm pháp luật có hợp pháp và có căn cứ hay không. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Kiểm sát viên phải ghi đầy đủ lời khai của bị cáo, người bị hại, của những người tham gia tố tụng khác, ý kiến của Kiểm sát viên, biên bản phiên toà, dư luận báo chí và các chứng cứ, tài liệu liên quan đến việc xem xét kháng nghị. Nếu có căn cứ xác định bản án hoặc quyết định của Toà án vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì báo cáo lãnh đạo Viện kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

+ Trường hợp có căn cứ xác định bản án hoặc quyết định không có vi phạm pháp luật hoặc có vi phạm pháp luật nhưng ít nghiêm trọng không phải kháng nghị thì thông báo cho người hoặc cơ quan, tổ chức đã phát hiện biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

+ Ở VKSND tối cao uỷ quyền cho Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự trả lời cho người hoặc cơ quan tổ chức biết, nếu họ tiếp tục khiếu nại thì báo cáo lãnh đạo Viện xem xét và quyết định.

+ Ở Viện kiểm sát cấp tỉnh uỷ quyền cho phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm trả lời cho người hoặc cơ quan tổ chức biết, nếu họ tiếp tục khiếu nại thì báo cáo lãnh đạo Viện xem xét và quyết định.

+ Đối với bản án hoặc quyết định do Toà án kháng nghị, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ quyết định kháng nghị, kiểm tra bản án hoặc quyết định và hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm nhất trí hoặc không nhất trí với kháng nghị; nêu rõ những điểm mới phát hiện theo hướng có lợi cho bị cáo cần đề nghị Toà án xem xét thêm để báo cáo lãnh đạo đơn vị và lãnh đạo Viện để xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị theo quy định tại Điều 277 BLTTHS.

+ Căn cứ khoản 2 Điều 277 BLTTHS, nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thì trước khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 278 BLTTHS, người có quyền kháng nghị phải trả lời cho người hoặc cơ quan, tổ chức đã phát hiện biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

- Quyết định kháng nghị; gửi kháng nghị; xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm; bổ sung hoặc rút kháng nghị.

+ Căn cứ Điều 52 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS thì quyết định kháng nghị phải nêu rõ lý do và hướng giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Quyết định kháng nghị bằng văn bản theo mẫu hướng dẫn của VKSND tối cao. Trường hợp xét thấy cần thiết tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thực hiện theo Điều 276 BLTTHS.

+ Căn cứ khoản 1 Điều 277 BLTTHS và Điều 53 Quy chế công tác THQCT& KSXXHS thì kháng nghị được gửi cho: Toà án sẽ xét xử giám đốc thẩm cùng hồ sơ vụ án; Toà án đã ra bản án hoặc quyết định bị kháng nghị; người bị kết án và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị; Viện kiểm sát cấp trên để báo cáo và Viện kiểm sát cấp dưới, Viện kiểm sát đã đề nghị kháng nghị, Vụ (hoặc phòng) kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù và Vụ (hoặc phòng) kiểm sát thi hành án để theo dõi. Đối với kháng nghị mà Viện trưởng VKSND tối cao uỷ quyền cho Phó Viện trưởng VKSND tối cao ký thì phải gửi cho Viện trưởng VKSND tối cao để báo cáo.

+ Căn cứ Điều 55 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS thì trong những trường hợp cần thiết để làm rõ thêm những căn cứ kháng nghị hoặc kết luận kháng nghị, lãnh đạo đơn vị báo cáo để trình lãnh đạo Viện kiểm sát cùng cấp quyết định xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm. Khi tiến hành xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm tuỳ từng trường hợp Kiểm sát viên có thể lấy lời khai của người bị kết án hoặc những người tham gia tố tụng khác, trưng cầu giám định, thu thập vật chứng, chụp ảnh, ghi âm, đo đạc, vẽ sơ đồ hiện trường…

+ Bổ sung hoặc rút kháng nghị: Căn cứ khoản 3 Điều 277 BLTTHS và Điều 54 Quy chế công tác THQCT&KSXX thì trước khi bắt đầu phiên toà giám đốc thẩm Viện trưởng Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung kháng nghị (nếu chưa hết thời hạn kháng nghị) hoặc rút kháng nghị. Quyết định bổ sung hoặc rút kháng nghị phải bằng văn bản nêu rõ lý do. Việc gửi quyết định kháng nghị bổ sung hoặc quyết định rút kháng nghị thực hiện theo quy định tại Điều 53 của Quy chế công tác THQCT&KSXXHS.

+ Đối với bản án hoặc quyết định do Toà án kháng nghị, nếu phát hiện có các vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác cần phải kháng nghị thì Viện kiểm sát phải trao đổi với Toà án để Toà án kháng nghị bổ sung. Nếu Toà án không kháng nghị thì Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định tại Điều 275 BLTTHS.

- Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên toà giám đốc thẩm.

+ Tham gia phiên toà giám đốc thẩm: Căn cứ Điều 280 BLTTHS và Điều 56 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên tham gia phiên toà giám đốc thẩm cùng cấp. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Đối với kháng nghị của Toà án phải nêu rõ lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kháng nghị. Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về kháng nghị của Toà án phải được lưu trong hồ sơ kiểm sát xét xử giám đốc thẩm. Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên tham gia phiên toà chỉ phát biểu quan điểm về những vấn đề đã được Viện trưởng cho ý kiến. Nếu phải thay đổi cơ bản quan điểm đã được Viện trưởng cho ý kiến thì đề nghị hoãn phiên toà để báo cáo Viện trưởng xem xét và quyết định.

+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở thủ tục giám đốc thẩm: Căn cứ Điều 57 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS, Kiểm sát viên được giao giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án xét xử giám đốc thẩm về thời hạn xét xử; về việc triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị (nếu có). Thành phần Hội đồng xét xử giám đốc thẩm; thủ tục xét hỏi những người được Toà án triệu tập đến phiên toà (nếu có); việc Hội đồng xét xử giám đốc thẩm biểu quyết và áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo; việc ra và gửi các quyết định giám đốc thẩm; việc chuyển hồ sơ vụ án bị huỷ để điều tra, xét xử lại.

- Hoạt động của Kiểm sát viên sau phiên toà giám đốc thẩm.

 

Căn cứ Điều 58 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS thì Kiểm sát viên tham gia phiên toà phải báo cáo lãnh đạo Viện và lãnh đạo đơn vị về kết quả xét xử và đề xuất những vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết; phải làm thông báo kết quả xét xử gửi cho các Viện kiểm sát đã tham gia xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án biết. Đối với bản án hoặc quyết định bị Toà án cấp giám đốc thẩm huỷ án để điều tra lại thì Kiểm sát viên đã tham gia phiên toà làm thủ tục chuyển ngay hồ sơ vụ án đến đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra cùng cấp để giải quyết theo thẩm quyền