2.1. Hoạt động của kiểm sát viện khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm.

2.1.1. Hoạt động chuẩn bị tham gia phiên tòa sơ thẩm hình sự của Kiểm sát viên.

a. Nghiên cứu hồ sơ vụ án.

Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên có thể vận dụng một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu toàn diện vụ án: Phương pháp này đòi hỏi Kiểm sát viên không được chủ quan chỉ tập trung nghiên cứu những tài liệu mà mình cho đó là có ý nghĩa làm nguồn chứng cứ còn tài liệu khác thì bỏ qua. Các tài liệu (muốn trở thành) chứa đựng chứng cứ (buộc tội hoặc gỡ tội) đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Không thể xem xét các tài liệu một cách biệt lập, tách rời.

- Phương pháp hệ thống, lôgic: Kiểm sát viên cần phân loại tài liệu theo tập (nhóm) hợp lý phù hợp với chủ đề nghiên cứu theo một trật tự nhất định. Kiểm sát viên cần hệ thống các tài liệu, chứng cứ chứng minh các sự kiện phạm tội, qua đó bằng hoạt động tư duy có thể dựng lại được toàn bộ vụ án diễn ra trong thực tiễn. Thông thường có thể phân thành các tập: Tập về thủ tục tố tụng; tập về kết quả khám nghiệm; tập về ý kiến của những nhà chuyên môn, kỹ thuật; tập về biên bản ghi lời khai; các tài liệu kết thúc điều tra; các tài liệu về nhân thân bị can; các tài liệu về thu giữ vật chứng, kê biên…

- Phương pháp so sánh, tổng hợp: Hồ sơ vụ án gồm nhiều tài liệu như các tài liệu về lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi v.v. trong đó có tài liệu mâu thuẫn với nhau như các lời khai của người làm chứng mâu thuẫn với các lời khai của bị can hoặc lời khai của bị can mâu thuẫn với các tài liệu khác như biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi v.v.. Khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần đối chiếu, so sánh để loại trừ những nội dung không hợp lý, chắt lọc các nội dung hợp lý để phân tích, đánh giá một cách tổng hợp về các tình tiết của vụ án. Phương pháp này đòi hỏi Kiểm sát viên không những nghiên cứu một cách toàn diện, lôgíc mà còn biết so sánh, tổng hợp để xác định các tình tiết có thực của vụ án, loại trừ những tình tiết không có thực của vụ án.

- Phương pháp ghi chép hồ sơ, tài liệu: Yêu cầu của phương pháp này là đối với những lời khai của bị can, bị hại, người làm chứng… phải lược ghi những nội dung chính. Tài liệu ghi chép, cần phải sắp xếp khoa học theo từng tập, có viện dẫn bút lục trong hồ sơ để dễ tìm khi cần thiết. Tránh tình trạng không ghi chép, chỉ sao chụp (photocoppy) lại các bản lời khai, sẽ dẫn đến thiếu chủ động, lúng túng; nhất là khi gặp trường hợp bị cáo hoặc luật sư đưa ra những lý lẽ trái ngược với lời buộc tội của Kiểm sát viên. Đối với những chứng cứ quan trọng như Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định v.v… cần phải sao chép, photocopy để sử dụng tại phiên toà, vì những tài liệu này khi viện dẫn cần phải chính xác.

Nghiên cứu các thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án.

- Kiểm tra thủ tục giao nhận hồ sơ vụ án và vật chứng của vụ án:

+ Kiểm sát viên kiểm tra chặt chẽ thủ tục giao nhận hồ sơ và vật chứng vụ án giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát bằng cách nghiên cứu biên bản bàn giao hồ sơ và đối chiếu với từng bút lục của hồ sơ vụ án để xem có thiếu bút lục nào không.

+ Căn cứ Mục 20 Thông tư liên tịch số 05/2005 thì hồ sơ vụ án được đánh số theo trật tự nhất định và để tránh xảy ra mất mát, thất lạc thì từng trang tài liệu trong các hồ sơ này phải được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra và kèm theo bản kê đầy đủ tên tài liệu, số trang từng tài liệu và lưu trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Kiểm sát viên phải kiểm tra từng trang, tập hồ sơ, đối chiếu với bảng kê tài liệu có trong hồ sơ để quyết định nhận hay không nhận hồ sơ. Nếu phát hiện hồ sơ thiếu bút lục thì phải trả hồ sơ để yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục. Nếu đủ và đúng thì nhận và vào sổ thụ lý và ghi ngày nhận hồ sơ vào bìa hồ sơ.

- Nghiên cứu các thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án:

Thủ tục tố tụng trong giai đoạn này là các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

+ Quyết định tố tụng trong giai đoạn điều tra là quyết định được ban hành theo quy định của BLTTHS của Cơ quan điều tra do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ban hành; của Viện kiểm sát do Viện trưởng, Phó Viện trưởng ban hành như: Bắt bị can để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang truy nã, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, ủy thác điều tra v.v

+ Hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng, Điều tra viên Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát như: Hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, đối chất, nhận dạng, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra v.v.

Khi nghiên cứu các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên chú ý:

+ Kiểm tra tính hợp pháp các quyết định và hành vi tố tụng bằng cách nghiên cứu, xem xét các quyết định, hành vi tố tụng ấy đó có được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn không? Người ra quyết định là ai, thời hạn đã đúng chưa? Người phải thi hành quyết định đã nhận được quyết định đó và được giải thích quyền và nghĩa vụ chưa? Thời hạn thực hiện các quyết định và hành vi tố tụng như thế nào, có quyết định nào hết hạn chưa?

+ Kiểm tra tính có căn cứ của các quyết định và hành vi tố tụng bằng cách nghiên cứu xem các quyết định và hành vi tố tụng đó đã đảm bảo đúng căn cứ ban hành chưa? Việc viện dẫn điều luật để áp dụng khi ra quyết định, hành vi tố tụng đã phù hợp với việc giải quyết vụ án hay chưa? Ví dụ: Khi Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ vụ án thì Kiểm sát viên cần chú ý nghiên cứu, xem xét căn cứ để ra quyết định đình chỉ vụ án đã đúng chưa? Nếu phát hiện việc vận dụng pháp luật sai thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục.

Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ của hồ sơ vụ án.

- Nghiên cứu bản kết luận điều tra:

Bản kết luận điều tra là văn bản xác nhận kết quả của quá trình hoạt động điều tra, trong đó nêu rõ diễn biến của hành vi phạm tội, các chứng cứ chứng minh tội phạm, nhân thân bị can và quan điểm đề xuất xử lý vụ án của Cơ quan điều tra.

Khi nghiên cứu Bản kết luận điều tra kiểm sát viên cần chú ý:

+ Nắm chắc nội dung bản kết luận điều tra như: Vụ án diễn biến như thế nào, thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, hành vi phạm tội cụ thể của bị can, hậu quả, động cơ, mục đích phạm tội…; họ tên, tuổi, nhân thân, địa chỉ của bị can, quan điểm xử lý vụ án của Cơ quan điều tra như thế nào, việc đình chỉ điều tra có đúng không, thời hạn điều tra có đảm bảo không? Việc tách ra như vậy có đúng các tình tiết của vụ án không như thế nào, việc đình chỉ điều tra như vậy đã đúng chưa?. Việc nắm được nội dung cơ bản vụ án và các tình tiết của hành vi phạm tội thể hiện trong bản kết luận điều tra giúp cho Kiểm sát viên có những cơ sở đánh giá bước đầu về tính có căn cứ, tính hợp pháp khi nghiên cứu các tài liệu tiếp theo.

+ Nghiên cứu kỹ các nội dung về đề nghị truy tố, xem bản kết luận điều tra đã nêu rõ các chứng cứ đề chứng minh tội phạm chưa? Đã nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố chưa? thế nào?. Căn cứ khoản 1 Điều 163 BLTTHS thì bản kết luận có nêu những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra làm sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát. Tuy nhiên có trường hợp, căn cứ bản kết luận điều tra, nhận thức giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không thống nhất về tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Bởi lẽ, quy định của pháp luật không bắt buộc cơ quan điều tra phải nêu rõ tội danh và điều, khoản được áp dụng.

- Nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:

Biên bản hỏi cung bị can là văn bản không những xác định kết quả cụ thể của hoạt động điều tra mà còn là tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội của bị can và đồng phạm.

Căn cứ Điều 131 Bộ luật TTHS thì việc hỏi cung bị can do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến hành. Khi nghiên cứu lời khai của bị can, Kiểm sát viên cần chú ý các vấn đề sau đây:

+ Nghiên cứu tính hợp pháp của biên bản hỏi cung bị can. Kiểm sát viên căn cứ các điều 131, 132 BLTTHS để kểm tra tính hợp pháp của hoạt động hỏi cung bị can. Để đảm bảo tính hợp pháp của biên bản hỏi cung bị can, Kiểm sát viên cần đối chiếu để xem xét, đánh giá biên bản hỏi cung ấy có phù hợp với các quy định của pháp luật hay không? Kiểm sát viên phải xem ai là người hỏi cung, đơn vị, chức vụ; khi hỏi cung đã giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can theo quy định tại Điều 49 Bộ luật TTHS chưa; thời gian bắt đầu và kết thúc việc hỏi cung, nếu hỏi vào ban đêm thì người hỏi cung có ghi rõ lý do không; nếu biên bản có nhiều trang thì mỗi trang đã có chữ ký của bị can chưa, nếu hỏi nhiều lần thì mỗi lần hỏi có ghi rõ lần thứ mấy không; các câu hỏi và trả lời đã được ghi đầy đủ chưa. Nếu cuộc hỏi cung có người bào chữa, phiên dịch hoặc người đại diện hợp pháp tham dự thì người hỏi cung đã giải thích quyền, nghĩa vụ cho họ như thế nào, cuối bản cung người hỏi cung, bị can và những người tham gia hỏi cung đã ký vào biên bản như thế nào. Trong trường hợp người bào chữa hỏi bị can thì Kiểm sát viên cần kiểm tra xem biên bản hỏi cung bị can đã ghi đầy đủ chưa? Trong trường hợp bị can tự viết lời khai thì cán bộ hỏi và bị can ký xác nhận ra sao? Trường hợp có băng ghi âm cuộc hỏi cung thì người hỏi cung có thông báo cho bị can biết không; những chỗ viết thêm, gạch xoá đã được người hỏi cung và bị can ký xác nhận như thế nào. Nếu Kiểm sát viên hỏi cung thì biên bản hỏi cung cũng được kiểm tra kỹ như trên.

+ Nghiên cứu về tính có căn cứ của biên bản hỏi cung bị can. Để làm rõ tính có căn cứ của biên bản hỏi cung bị can, Kiểm sát viên cần nắm được tình hình bị can khai báo như thế nào? (bị can nhận tội, bị can không nhận tội, bị can nhận tội sau đó phản cung...); tổng hợp xem trong hồ sơ vụ án có bao nhiêu bản cung của bị can, trong đó có bao nhiêu bản cung bị can nhận tội, bao nhiêu bản cung không nhận tội, thời gian nhận tội và không nhận tội diễn ra như thế nào. Đây là những tài liệu quan trọng để đối chiếu với các lời khai của các bị can, người làm chứng khác, qua đó có đánh giá, xem xét quá trình điều tra vụ án diễn ra khách quan như thế nào. Ví dụ, trước khi bắt giam thì bị can không nhận tội, sau khi vào trại giam thì nhận tội, đến khi Kiểm sát viên hỏi cung bị can lại không nhận tội và khai rằng trong nhà tạm giam bị can bị bức cung. Từ những thông tin này Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các bản cung để xem xét tính chính xác của bản cung và dự kiến sắp tới Kiểm sát viên cần hỏi thêm nội dung gì để kết luận về tính có căn cứ của các biên bản hỏi cung bị can.

Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can kiểm sát viên cần lưu ý một số trường hợp sau:

+ Đối với trường hợp bị can nhận tội thì cần kiểm tra xem việc nhận tội đó có nội dung như thế nào? Các tình tiết đó đã được xác minh ra sao? Kết quả xác minh có phù hợp với các chứng cứ khác không? Nếu các tình tiết của lời khai nhận tội đó đã được xác minh và phù hợp với các chứng cứ khác thì lời khai đó có cơ sở tin cậy. Đây là tài liệu, chứng cứ quan trọng của hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, xem xét một cách toàn diện trong mối quan hệ với các chứng cứ khác.

+ Đối với trường hợp bị can khai nhận tội cho người khác thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các chứng cứ khác để xem xét vị trí, vai trò của bị can trong vụ án như thế nào. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải tự đặt các câu hỏi: Tại sao bị can lại khai nhận trách nhiệm về mình? Lời khai nhận đó đã được xác minh chưa?

+ Đối với trường hợp bị can không nhận tội thì Kiểm sát viên cần đọc kỹ các tình tiết không nhận tội như thế nào, các tình tiết đó đã được xác minh chưa? Kết quả xác minh lời khai không nhận tội đó đã bị các chứng cứ khác bác bỏ như thế nào? Nếu có căn cứ bác bỏ lời khai không chính xác đó thì biên bản hỏi cung bị can cũng cần được xác định.

Tóm lại: Khi nghiên cứu lời khai của bị can thì dù lời khai đó có nhận tội hay không nhận tội, Kiểm sát viên phải chú ý xem lời khai đó có căn cứ hay không. Chỉ được coi là chứng cứ khi lời khai đó phù hợp với các chứng cứ khác. Đặc biệt đối với các lời khai của những bị can không biết chữ, hoặc lời khai của những người bị hạn chế về thể chất, tinh thần mà nhờ người khác viết thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án để xem việc nhận tội đó có phù hợp với sự thật khách quan của vụ án không.

- Nghiên cứu lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự bị đơn dân sự, người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Căn cứ Điều 137 BLTTHS thì việc lấy lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến hành và phải được lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật.

Khi nghiên cứu lời khai của những người này Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau:

+ Nghiên cứu tính hợp pháp của biên bản ghi lời khai: Xem người lấy lời khai đã giải thích quyền và nghĩa vụ của họ chưa, mối quan hệ giữa họ với bị can ra sao, liên quan với các tình tiết của vụ án như thế nào. Trong trường hợp lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đến 16 tuổi thì cơ quan điều tra đã mời cha, mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc thầy giáo, cô giáo tham gia buổi hỏi cung theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 110 BLTTHS chưa? Các lời khai của những người này đã được người lấy lời khai đọc và cùng ký tên trong các biên bản ghi lời khai như thế nào?.

+ Nghiên cứu tính có căn cứ của lời khai: Nghiên cứu, xem xét việc những người này khai về diễn biến của hành vi phạm tội như thế nào, nhất là về hành vi phạm tội của bị can ra sao; đối chiếu với lời khai của bị can và những người làm chứng khác để xem có tình tiết nào phù hợp, tình tiết nào mâu thuẫn, những mâu thuẫn đó đã được xác minh và đối chất chưa. Những tình tiết của vụ án phù hợp hoặc không phù hợp giữa các lời khai thì cần được ghi chép kỹ vào bản nghiên cứu để tổng hợp đánh giá đồng thời kiểm tra kỹ những quan điểm của họ về giải quyết bồi thường thiệt hại ra sao để xem xét việc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Nghiên cứu lời khai của người làm chứng:

Căn cứ Điều 55 Bộ luật TTHS thì người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án (có thể trực tiếp hay gián tiếp). Căn cứ Điều 135 BLTTHS thì Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến hành lấy lời khai của người làm chứng và phải lập biên bản theo quy định của pháp luật.

Khi nghiên cứu lời khai của người làm chứng Kiểm sát viên cần chú ý đến các nội dung sau đây:

+ Kiểm tra tính hợp pháp của các biên bản ghi lời khai người làm chứng. Kiểm sát viên cần kiểm tra xem thời gian, địa điểm ghi lời khai, mỗi người làm chứng có bao nhiêu lời khai, khi lấy lời khai Điều tra viên đã giải thích quyền và nghĩa vụ của người làm chứng chưa, nhất là trách nhiệm của họ về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Biên bản ghi lời khai đã phản ảnh đầy đủ các thông tin về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa? Nếu người làm chứng chưa đủ 16 tuổi thì kiểm tra xem khi hỏi cung đã có sự mặt tham dự của cha, mẹ, thầy, cô giáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ chưa? Những người này đã ký vào biên bản cùng với người làm chứng và người ghi lời khai như thế nào? Nếu có những điểm nào mà người làm chứng hoặc người tham gia yêu cầu sửa chữa thì người ghi lời khai đã ghi bổ sung chưa?

+ Về nội dung chứng cứ lời khai của người làm chứng: Kiểm sát viên cần kiểm tra xem người hỏi đặt câu hỏi như thế nào và người làm chứng đã trình bày ra sao? Nội dung trình bày của người làm chứng là do họ biết được các tình tiết của vụ án hay là họ nghe người khác kể lại. Ngoài ra, Kiểm sát viên phải đối chiếu với các chứng cứ khác xem có phù hợp hoặc mâu thuẫn với chính lời khai của mình và với các tài liệu đã có như: lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.v.v. Những nội dung nào phù hợp hoặc mâu thuẫn trong lời khai của người làm chứng so với các tình tiết khác của vụ án thì Kiểm sát viên cần ghi cụ thể, rõ ràng để phân tích đánh giá một cách tổng hợp, khách quan.

 - Nghiên cứu biên bản đối chất:

Sau khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản ghi lời khai người làm chứng, Kiểm sát viên cần nghiên cứu biên bản đối chất. Tuy nhiên, không phải trong bất kỳ vụ án nào hoạt động đối chất cũng đều được tiến hành, căn cứ Điều 138 BLTTHS thì khi có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người thì Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến hành đối chất, khi tiến hành đối chất phải được lập biên bản.

Khi nghiên cứu biên bản đối chất Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau đây:

+ Kiểm tra tính hợp pháp của việc đối chất: Kiểm sát viên phải kiểm tra những người được đối chất đó là ai (bị can, người bị hại, người làm chứng...), trước khi tiến hành đối chất Điều tra viên đã giải thích cho họ biết về trách nhiệm từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối chưa? Điều tra viên đã hỏi họ về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất với nhau chưa? Điều tra viên đã đọc lại biên bản đối chất cho những người có mặt nghe chưa? Việc ký vào biên bản như thế nào, có ai sửa chữa, ghi thêm nội dung nào vào biên bản không?

+ Về nội dung tính có căn cứ của biên bản đối chất: Kiểm sát viên cần kiểm tra các câu hỏi và trả lời của biên bản đối chất xem nội dung đã giải quyết các mâu thuẫn chưa? Những người tham gia đối chất đã trả lời về những tình tiết cần làm sáng tỏ như thế nào, họ đã trình bày và giải thích về những mâu thuẫn giữa lời khai của họ với lời khai của những người khác, giữa lời khai hiện nay và trước đây như thế nào? Qua trả lời của những người tham gia đối chất thì đã giải quyết được mâu thuẫn chưa, nội dung nào chưa được giải quyết? Những nội dung nào đã được giải quyết hoặc chưa được giải quyết, Kiểm sát viên cần ghi chép đầy đủ để tiến hành các hoạt động tiếp theo vào bản nghiên cứu của mình để giải quyết tiếp.

 - Nghiên cứu biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi:

Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra được tiến hành khi vụ án có hiện trường và có tử thi nhằm nghiên cứu, ghi nhận, mô tả hiện trường, phát hiện, thu lượm, đánh giá các dấu vết, tin tức, đồ vật, tài liệu có liên quan tại hiện trường để phục vụ cho công tác điều tra, phát hiện tội phạm.

Căn cứ Điều 150 và Điều 151 BLTTHS thì mọi trường hợp khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đều có Kiểm sát viên tham gia. Vì vậy, Kiểm sát viên đã tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi cần nghiên cứu kỹ một lần nữa các biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để tiếp tục xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan và thận trọng.

Khi nghiên cứu biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên cần chú ý:

+ Kiểm tra về tính hợp pháp của biên bản khám nghiệm. Kiểm sát viên nghiên cứu biên bản để kiểm tra khi cơ quan điều tra tiến hành việc khám nghiệm đã thành lập hội đồng khám nghiệm chưa? Ngoài 3 thành phần bắt buộc là Điều tra viên, Kiểm sát viên và người chứng kiến thì còn ai trong số những người sau đây tham gia nữa như các nhà chuyên môn về khoa học kỹ thuật, bác sỹ pháp y, chuyên gia về súng đạn, chất nổ, chất cháy, có thể cho bị can, người bị hại, gia đình nạn nhân, người làm chứng được tham dự. Kết thúc việc khám nghiệm Hội đồng đã thông qua biên bản như thế nào? Những người tham gia ký vào biên bản ra sao? Nếu qua nghiên cứu phát hiện biên bản khám nghiệm có vi phạm pháp luật thì Kiểm sát viên phải yêu cầu khắc phục ngay.

+ Kiểm tra về tính có căn cứ của biên bản khám nghiệm. Hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có bốn công việc quan trọng là: Chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, mô tả hiện trường vào biên bản và cuối cùng là thu lượm, bảo quản vật chứng, tài liệu thu được tại hiện trường. Kiểm sát viên phải nghiên cứu thật kỹ về tính có căn cứ của các tài liệu này.

Về bản ảnh, Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ xem có bao nhiêu ảnh, gồm những thể loại nào? có đủ ảnh chụp toàn cảnh, ảnh trung tâm, ảnh từng phần và ảnh chi tiết không? Kỹ thuật và phương pháp chụp đã đúng chưa? So sánh ảnh chụp hiện trường với sơ đồ hiện trường có gì phù hợp hoặc mâu thuẫn.

Về sơ đồ hiện trường, Kiểm sát viên cần kiểm tra bản vẽ sơ đồ hiện trường để xem đã có đủ sơ đồ chung, sơ đồ từng phần và sơ đồ chi tiết chưa? Kiểm sát viên cần chú ý nghiên cứu kỹ sơ đồ hiện trường có phù hợp với bản ảnh và biên bản mô tả hiện trường không? Các số đo, mô hình hiện trường đã được thể hiện đầy đủ trên sơ đồ chưa?.

Về việc thu lượm, bảo quản dấu vết, tài liệu, đồ vật. Đây là những dấu vết vật chất cần thiết cho việc nghiên cứu sử dụng trong quá trình điều tra, phát hiện tội phạm. Do vậy khi nghiên cứu, Kiểm sát viên phải kiểm tra việc khám nghiệm hiện trường đã được thu lượm đầy đủ các dấu vết, tài liệu, đồ vật như thế nào, đặc điểm các dấu vết đó ra sao, kích thước, màu sắc, số lượng, trọng lượng.

Biên bản mô tả hiện trường. Sau khi nghiên cứu bản ảnh, sơ đồ hiện trường, các dấu vết, tài liệu đã thu lượm, Kiểm sát viên cần chú ý kiểm tra biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi được ghi chép, mô tả hiện trường như thế nào, đã ghi đầy đủ kết quả đo đạc, dựng mô hình, vẽ sơ đồ, đủ các dấu vết, đồ đạc, tài liệu của hiện trường, tử thi chưa? Những dấu vết, tài liệu thu lượm được tại hiện trường, tử thi có được mô tả đầy đủ trong biên bản không và có phù hợp với đặc điểm riêng của dấu vết, tài liệu đã được thu lượm không? Các dấu vết đó được thu giữ, niêm phong, đóng gói, ký xác nhận và bảo quản như thế nào. Những ý kiến của người tham dự, chứng kiến được ghi trong biên bản ra sao? Sau khi nghiên cứu biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên đối chiếu với các tài liệu điều tra khác để xem giá trị chứng minh của các tài liệu, vật chứng đã thu lượm được như thế nào. Đồng thời, qua nghiên cứu cần kiểm tra, so sánh các dấu vết, vật chứng với các chứng cứ khác để xem giữa chúng có sự phù hợp hay mâu thuẫn. Những thông tin từ hiện trường đã được Điều tra viên sử dụng trong việc điều tra phát hiện tội phạm như thế nào?

 - Nghiên cứu biên bản nhận dạng:

Nhận dạng là hoạt động điều tra nhằm mục đích khắc phục sự nhầm lẫn, sai lầm trong nhận thức của người làm chứng, người bị hại, bị can bằng cách cho những người này xác nhận lại đối tượng mà mình đã khai trước đây.

Khi nghiên cứu biên bản nhận dạng Kiểm sát viên cần lưu ý các nội dung sau đây:

+ Kiểm tra tính hợp pháp của biên bản nhận dạng. Căn cứ Điều 139 Bộ luật TTHS, Kiểm sát viên cần kiểm tra xem Điều tra viên đã giải thích cho những người nhận dạng biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh nhận dạng hoặc cố tình nhận dạng gian dối chưa? Đối với người nhận dạng dưới 16 tuổi thì Điều tra viên có mời cha, mẹ, người đại diện hợp pháp tham dự không? Người chứng kiến việc nhận dạng đã có mặt đầy đủ chưa? Đối tượng nhận dạng là người, ảnh, vật có đủ tối thiểu số lượng là ba hay không? Nếu là vật thì có bề ngoài giống nhau về kích thước, màu sắc, chủng loại, hình dáng, nhãn hiệu không; nếu là người thì có gần nhau về tuổi, tầm thước, hình dáng, khuôn mặt, tóc, mắt, kiểu ăn mặc quần áo không? Biên bản nhận dạng đã lập theo quy định của pháp luật chưa, những người tham gia nhận dạng đã ký vào biên bản và có ghi thêm về nội dung nào nữa không? Đây là các thủ tục bắt buộc, nếu có vi phạm thì Kiểm sát viên kiến nghị ghi chép đầy đủ để yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục.

+ Kiểm tra tính có căn cứ của biên bản nhận dạng. Kiểm sát viên phải kiểm tra xem Điều tra viên đã đưa ra các câu hỏi về những tình tiết, đặc điểm, vết tích với người nhận dạng và nhờ đó họ có thể nhận dạng được như thế nào, nếu câu hỏi có tính chất gợi ý là vi phạm cần được ghi chép đầy đủ để yêu cầu khắc phục. Khi người nhận dạng đã nhận dạng được một vật, người, ảnh thì họ đã giải thích như thế nào về căn cứ, đặc điểm gì mà họ nhận dạng được Những nội dung này đã được ghi đầy đủ trong biên bản nhận dạng chưa?

- Nghiên cứu biên bản khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm:

Khi nghiên cứu biên bản này, Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau đây:

+ Kiểm tra tính hợp pháp của biên bản. Kiểm sát viên chú ý kiểm tra biên bản đó đã được lập theo đúng quy định của pháp luật chưa? Ai ra lệnh, ai là người thi hành? Điều tra viên đã giải thích quyền, nghĩa vụ cho những người có mặt biết chưa? Khi khám xét chỗ ở, địa điểm, chỗ làm việc thì ngoài các thành viên trong gia đình còn có đại diện chính quyền địa phương không? Nếu thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm thì có người phụ trách cơ quan bưu điện chứng kiến không? Nếu thu giữ đồ vật thì đã niêm phong chưa, có chữ ký của người chủ đồ vật không? Ai là người được giao bảo quản? v.v.

+ Kiểm tra nội dung biên bản: Kiểm sát viên cần kiểm tra xem nội dung biên bản đã phản ánh đầy đủ diễn biến của việc khám xét chưa? Các loại vật chứng, tài liệu, đồ vật, liên quan đến vụ án đã được thu giữ như thế nào, số lượng, chủng loại ra sao, cách ghi chép, thống kê các đồ vật bị thu giữ như thế nào? Thái độ của người bị khám xét ra sao? Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm chắc các vật chứng, đồ vật, tài liệu thể hiện trong biên bản như thế nào, trên cơ sở đó kiểm tra xem Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ chưa? Các đồ vật, thư tín, tài liệu, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm đã được xác minh như thế nào và so sánh với các chứng cứ khác xem nó phù hợp hay mâu thuẫn để xác định giá trị chứng minh của nguồn chứng cứ này? Đối chiếu với các lời khai của bị can và những người khác có liên quan như người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai về các đồ vật đã thu giữ như thế nào? Những nội dung nào chưa được xác minh thì ghi chép để yêu cầu làm rõ. Tiến hành kiểm tra các đồ vật đã được thu giữ có bị mất, hư hỏng gì không?

- Nghiên cứu biên bản thực nghiệm điều tra:

Căn cứ Điều 153 Bộ luật TTHS thì để kiểm tra, xác minh những tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát sẽ tiến hành thực nghiệm điều tra và phải lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật.

Khi nghiên cứu biên bản thực nghiệm điều tra, Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau đây:

+ Kiểm tra tính hợp pháp của biên bản thực nghiệm điều tra. Thực nghiệm điều tra do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến hành, tuy nhiên trong trường hợp cần thiết người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng cũng có thể tham dự. Do vậy, Kiểm sát viên cần kiểm tra buổi thực nghiệm hôm đó gồm có những người nào tham dự, những người đó đã ký vào biên bản chưa? Kiểm tra việc mô tả hiện trường thực nghiệm như thế nào, có đúng(hoặc gần đúng) với hiện trường thực không? Điều luật không quy định hiện trường thực nghiệm như thế nào nhưng thực tiễn cho thấy hiện trường thực nghiệm phải là hiện trường gần giống như hiện trường thật. Ví dụ, hiện trường vụ án xảy ra ban đêm thì hiện trường thực nghiệm cũng phải vào ban đêm.

+ Kiểm tra tính có căn cứ của biên bản thực nghiệm điều tra. Kiểm sát viên cần kiểm tra xem những người thực nghiệm đã diễn lại các hành vi, tình huống hoặc các hoạt động khác như thế nào. Hành vi diễn lại đó có phù hợp với lời khai của họ và phù hợp với hiện trường không? Cơ quan điều tra đã đo đạc, chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường thực nghiệm như thế nào? Trong trường hợp bị can diễn lại hành vi giết người, người bị hại có thể mô tả trên hiện trường nơi mình có mặt về những gì mà mình đã biết thì có phù hợp với nhau hay không?.

- Nghiên cứu kết luận giám định:

Căn cứ Điều 155 Bộ luật TTHS thì khi thấy cần thiết để kết luận những vấn đề liên quan đến vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Cơ quan giám định sẽ kết luận theo nội dung trưng cầu của cơ quan yêu cầu.

Khi nghiên cứu kết luận giám định, Kiểm sát viên cần lưu ý các nội dung sau đây:

+ Kiểm tra tính hợp pháp của kết luận giám định. Kiểm sát viên cần kiểm tra xem thành phần hội đồng giám định gồm những ai, có đủ trình độ để giám định không? Kiểm tra trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của người giám định. Đặc biệt, Kiểm sát viên cần kiểm tra xem những người giám định có phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp theo quy định của pháp luật hay không;

+ Kiểm tra tính có căn cứ của nội dung kết luận. Kiểm sát viên cần kiểm tra xem cơ quan yêu cầu giám định những nội dung gì, các đồ vật, tài liệu cần giám định như thế nào, các mẫu vật tài liệu để so sánh ra sao? Cơ quan giám định đã áp dụng các phương pháp, phương tiện giám định như thế nào, có kết luận từng vấn đề ra sao, việc trả lời đã rõ ràng, chính xác từng câu hỏi của cơ quan trưng cầu giám định chưa? Có nội dung trả lời nào mà Kiểm sát viên còn băn khoăn, chưa hiểu? Nếu cơ quan trưng cầu hỏi thêm thì cơ quan giám định đã trả lời như thế nào. Nếu kết luận giám định chưa đáp ứng được yêu cầu thì có thể trưng cầu giám định lại. Căn cứ khoản 3 Điều 155 Bộ luật TTHS thì có 5 trường hợp bắt buộc phải giám định: Nguyên nhân chết, tính chất thương tật, tổn hại sức khoẻ; tình trạng tâm thần của bị can; tình trạng tâm thần của người làm chứng, người bị hại; tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án; chất độc, ma tuý phóng xạ, tiền giả. Vì vậy, Kiểm sát viên cần kiểm tra kỹ, nếu những trường hợp trên đây chưa được giám định, hoặc kết luận giám định chưa rõ ràng thì phải yêu cầu giám định lại hoặc giám định bổ sung lại.

- Nghiên cứu các quyết định xử lý vụ án của Cơ quan điều tra:

Căn cứ quy định từ Điều 160 đến Điều 165 Bộ luật TTHS thì sau khi kết.thúc điều tra, Cơ quan điều tra sẽ có các quyết định tạm đình chỉ điều tra; truy nã bị can; kết thúc điều tra, đề nghị truy tố; đình chỉ điều tra và phục hồi điều tra… Đây là các quyết định tố tụng do Cơ quan điều tra ban hành có liên quan đến việc xử lý vụ án.

Khi nghiên cứu các quyết định xử lý vụ án của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau:

+ Kiểm tra tính hợp pháp của các quyết đinh. Pháp luật tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ các điều kiện thời gian, thẩm quyền ra các quyết định xử lý vụ án của Cơ quan điều tra. Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các quyết định ấy, đối chiếu với các quy định cụ thể của điều luật để xem các quyết định ấy đã đúng các thủ tục pháp lý chưa.

+ Kiểm tra về nội dung của các quyết định. Trên cơ sở nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần kiểm tra xem các quyết định đó có căn cứ hay không? Nội dung nêu trong các quyết định có phù hợp với các tình tiết của vụ án hay không? Ví dụ, cơ quan điều tra căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 164 Bộ luật TTHS để quyết định đình chỉ bị can có hành vi phạm tội theo khoản 1 Điều 104 BLHS vì người bị hại rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án có tài liệu khẳng định việc người bị hại rút yêu cầu đó là do sự khống chế, đe doạ của bị can thì quyết định đình chỉ đó là không có căn cứ.

- Nghiên cứu giải quyết các khiếu nại, tố cáo, các dư luận xã hội về vụ án:

Thứ nhất, nghiên cứu, giải quyết các khiếu nại tố cáo: Bộ luật TTHS 2003 có một chương mới (Chương XXXV) quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự. Liên ngành tư pháp Trung ương đã có Thông tư liên tịch Số 02/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP-BTP hướng dẫn thi hành một số điểm của Chương XXXV BLTTHS. Do vậy, Kiểm sát viên cần nắm vững các quy định của hướng dẫn này để kiểm tra các khiếu nại, tố cáo đã được các cơ quan và người có thẩm quyền thụ lý và giải quyết như thế nào, có đúng thẩm quyền và thời gian theo quy định của pháp luật hay không. Việc khiếu nại, tố cáo nếu đã được giải quyết mà còn tiếp tục khiếu nại, tố cáo tiếp thì trách nhiệm thuộc cơ quan và người có thẩm quyền nào để báo cáo, đề xuất Viện trưởng cho ý kiến.

+ Kiểm sát viên phải đối chiếu với hồ sơ vụ án để xem các khiếu nại, tố cáo đó đã được các cơ quan điều tra giải quyết chưa và giải quyết như thế nào, những nội dung nào cần được xác minh làm rõ, nội dung nào cần yêu cầu cơ quan điều tra giải quyết. Trên cơ sở đó đề xuất phương án giải quyết theo đúng các quy định của pháp luật.

+ Thực tiễn cho thấy, khi Kiểm sát viên bắt đầu tống đạt cáo trạng thì thường phát sinh khiếu nại, tố cáo. Vì thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn này rất nhanh, không được kéo dài, do vậy Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các khiếu nại, tố cáo để giải quyết.

Thứ hai, nghiên cứu các dư luận báo chí về vụ án: Thực tiễn điều tra, truy tố xét xử cho thấy, quá trình giải quyết vụ án là quá trình các báo chí đưa tin về vụ án, trong đó có những bài có tính chất thông tin, nhưng cũng có những bài bình luận về vụ án. Trong các bài bình luận có thể có những bài ủng hộ cơ quan pháp luật, nhưng cũng có bài phê phán cơ quan pháp luật, thậm chí có bài nêu có tính chất cường điệu vụ án. Đây là biểu hiện tính dân chủ, công khai trong đời sống chính trị, xã hội của Việt Nam. Đối với trường hợp này, Kiểm sát viên phải hết sức bình tĩnh, cầu thị để nghiên cứu các thông tin này và có biện pháp xử lý. Đây là các nguồn tin rất quan trọng giúp cho Kiểm sát viên có những tư liệu để xem xét đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan toàn diện. Khi nghiên cứu các tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng, Kiểm sát viên phải tổng hợp, đối chiếu, so sánh với các tình tiết của vụ án để xem các thông tin đó phản ánh như thế nào, có điểm nào đúng, điểm nào phản ảnh sai, điểm nào mới. Kiểm sát viên coi đây là nội dung quan trọng cần lưu ý khi nghiên cứu hồ sơ vụ án. Cần lưu ý rằng, các thông tin đó không phải chỉ là của phóng viên mà có thể đây là ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật:

Sau khi nghiên kỹ hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu các điều luật mà kết luận điều tra viện dẫn để đề nghị truy tố bị can và các hướng dẫn áp dụng pháp luật về điều luật ấy. Khi nghiên cứu các quy định của pháp luật kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu cấu thành cơ bản của điều luật. Nghiên cứu cấu thành cơ bản của điều luật để nắm chắc các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm đó, góp phần khắc phục sự nhầm lẫn giữa tội phạm này với tội phạm khác.

Thứ hai, nghiên cứu các cấu thành cụ thể. Nghiên cứu các cấu thành cụ thể này giúp Kiểm sát viên vận dụng để áp dụng pháp luật sát đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị can. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn phải căn cứ các tình tiết của vụ án, nhân thân bị can, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ...để áp dụng pháp luật cho chính xác.

Thứ ba, nghiên cứu các hướng dẫn áp dụng pháp luật: Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS; các văn bản hướng dẫn các bộ luật khác có liên quan đến vụ án đang giải quyết. Khi xử lý vụ án mà có các tình tiết liên quan đến các văn bản hướng dẫn, thì Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu để có quan điểm toàn diện về giải quyết vụ án. Đây không những là căn cứ để xây dựng bản cáo trạng truy tố vụ án ra Toà xét xử, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật mà còn đây chính là các tài liệu quan trọng để Kiểm sát viên chuẩn bị thực hành quyền công tố tại phiên toà.

Thứ tư, nghiên cứu các quy định của cơ quan quản lý hành chính. Tuy đây là các văn bản quy phạm của cơ quan quản lý hành chính, nhưng có ý nghĩa quan trọng khi Viện kiểm sát vận dụng truy tố bị can về hành vi phạm tội liên quan đến các quy định đó. Ví dụ, khi truy tố bị can ở kho bạc về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trong theo Điều 285 Bộ luật hình sự, thì Kiểm sát viên cần tìm hiểu Chính phủ đã có những quy định nào về trách nhiệm của cán bộ Kho bạc chưa? Bộ Tài chính đã có các văn bản hướng dẫn như thế nào. 

b. Kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần dành giành thời gian để kiểm tra trực tiếp các tài liệu, chứng cứ trong các trường hợp cần thiết, nhằm một mặt củng cố thêm lòng tin nội tâm của mình về các tình tiết của vụ án, đồng thời, tiếp tục làm sáng rõ hơn các mâu thuẫn mà qua nghiên cứu hồ sơ Kiểm sát viên đã phát hiện được.

Việc kiểm tra, xác minh các tài liệu cần tập trung các nội dung chính sau đây:

- Kiểm tra, xem xét các vật chứng, tài liệu đã được thu giữ:

Căn cứ Điều 140 Bộ luật TTHS, khi phát hiện các công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài liệu khác liên đến vụ án thì cơ quan điều tra có quyền thu giữ. Những tài liệu đồ vật của vụ án có hai loại: loại gọn nhẹ như dao, kéo, gậy, các chứng từ, hoá đơn thanh toán, các giấy tờ bị làm giả như hộ chiếu, tiền giả... thì thông thường được chuyển theo hồ sơ vụ án, còn các đồ vật khác cồng kềnh thì để tại kho tang vật.

+ Đối với các đồ vật, tài liệu chuyển theo hồ sơ vụ án, thì Kiểm sát viên phải dành thời gian để nghiên cứu, xem xét các vật chứng này, đối chiếu với biên bản thu giữ có phù hợp không. Kiểm tra xem Điều tra viên đã hỏi kỹ về các tài liệu, đồ vật này như thế nào, các tài liệu giám định đã kết luận về các tài liệu đồ vật ra sao? Với cách quan sát trực tiếp như vậy và ý kiến các nhà chuyên môn thì các tài liệu, đồ vật đó (dao, kéo, giấy tờ giả, gậy gộc, cuốc...) có giá trị chứng minh như thế nào).

+ Đối với các vật chứng không chuyển theo hồ sơ mà để tại kho tang vật, thì Kiểm sát viên cũng cần trực tiếp nghiên cứu như xe ô tô, xe máy. . . để xem đặc điểm, dấu vết của vật chứng có phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng hay không.

 - Gặp bị can:

+ Căn cứ khoản 3 Điều 131 và khoản 1 Điều 166 Bộ luật TTHS, trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy cần thiết Kiểm sát viên có thể hỏi cung bị can. Theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Quy chế THQCT&KSĐT, thì sau khi kết thúc điều tra, Kiểm sát viên phải hỏi cung bị can. Kiểm sát viên tiến hành hỏi cung bị can phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nếu xét thấy cần thiết thì Kiểm sát viên mời Điều tra viên, trong các vụ án bắt buộc phải có luật sư tham gia, thì nên mời họ tham dự. Hỏi cung xong, Kiểm sát viên phải lập biên bản và có chữ ký của Kiểm sát viên và bị can.

+ Mục đích, yêu cầu hỏi cung bị can của Kiểm sát viên nhằm kiểm tra lại các chứng cứ, các tình tiết của vụ án. Kiểm sát viên cũng cần hỏi kỹ về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, động cơ, mục đích phạm tội, vị trí, vai trò của bị can trong vụ án, những vấn đề bồi thường thiệt hại cho nạn nhân.

+ Trong trường hợp bị cáo khai do bị bức cung nên mới khai như trước đây với Cơ quan điều tra, bây giờ xin khai lại là bị can không phạm tội. Kiểm sát viên cần phải trực tiếp gặp bị can để làm rõ. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên cần mời Điều tra viên tham dự với tư cách là người làm chứng.

+ Bị can là vị thành niên, là người bị hạn chế về thể chất và tinh thần, bị can có thể bị áp dụng khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, bị can kêu oan... thì bắt buộc Kiểm sát viên phải phúc cung. Ngoài ra, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu thấy cần tiếp tục làm rõ một số tình tiết của vụ án, thì Kiểm sát viên phải tiến hành hỏi cung bị can. Việc gặp bị can trong các trường hợp này, Kiểm sát viên nên mời Điều tra viên làm chứng và có thể nên mời luật sư tham gia

- Gặp người làm chứng:

+ Căn cứ khoản 4 Điều 133 và khoản 6 Điều 135 Bộ luật TTHS thì Kiểm sát viên có quyền gặp người làm chứng để kiểm tra các lời khai của họ, đặc biệt là đối với những người làm chứng có lời khai mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những người làm chứng khác hoặc mâu thuẫn với các chứng cứ khác.

+ Khi gặp người làm chứng, Kiểm sát viên phải lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

+ Đối với những người làm chứng có lời khai mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai bị cáo, mâu thuẫn với chính mình thì Kiểm sát viên cần giải thích về quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và dùng các chứng cứ khác để đấu tranh, bác bỏ những lời khai không khách quan của người làm chứng. Kiểm sát viên cần ghi chép đầy đủ những lời khai mâu thuẫn này và nội dung đã làm việc để dự kiến các tình huống tại phiên toà, làm cơ sở cho việc xét hỏi và tranh luận tại phiên toà.

 - Tiến hành đối chất:

Việc tiến hành đối chất được quy định tại Điều 138 Bộ luật TTHS. Căn cứ khoản 5 Điều 138 Bộ luật TTHS, nếu qua nghiên cứu hồ sơ thấy giữa các lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, bị đơn, nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mâu thuẫn với nhau thì Kiểm sát viên cần tiến hành đối chất. Khi tiến hành đối chất, Kiểm sát viên cần mời Điều tra viên tham dự dự làm người chứng kiến. Các tài liệu đối chất cần được sử dụng tại phiên Toà như tài liệu chứng minh của vụ án.

 - Thực nghiệm điều tra:

+ Thực nghiệm điều tra là nhằm kiểm tra lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng về sự việc phạm tội, hậu quả do tội phạm gây ra có đúng với thực tế khách quan hay không. Do vậy, thực nghiệm điều tra là hoạt động kiểm tra, đánh giá tính xác thực của các lời khai về hành vi phạm tội, qua đó có thể chấp nhận hay bác bỏ các lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng. . .

+ Căn cứ khoản 3 Điều 153 Bộ luật TTHS thì trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể tiến hành thực nghiệm điều tra. Việc thực nghiệm điều tra được tiến hành theo quy định tại Điều 153 Bộ luật TTHS. Đây là hoạt động tương đối phức tạp, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ, xây dựng kế hoạch cụ thể và phối hợp với Cơ quan điều tra để thực hiện.

+ Yêu cầu của việc thực nghiệm điều tra là các dữ kiện về thời gian, địa điểm, phương tiện phải phù hợp hiện trường. Có như vậy mới bảo đảm tính phù hợp với thực tế khách quan của vụ án.

c. Những vấn đề cần rút ra sau khi nghiên cứu hồ sơ và xem xét các vật chứng tài liệu:

Để có quan điểm đánh giá chính xác về vụ án và trên cơ sở đó có biện pháp xử lý vụ án đúng với các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên cần tổng hợp, phân tích, đánh giá về vụ án. Khi tổng hợp đánh giá cần chú ý các nội dung sau:

- Về đánh giá nội dung vụ án. Phần này cần đánh giá khái quát về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, diễn biến hành vi phạm tội của các bị can, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần lưu ý, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét các tài liệu chứng cứ, gặp bị can, nghiên cứu các đơn thư khiếu nại, tố cáo, các tin tức của báo chí đăng tải, nếu thấy cần thêm, bớt các chi tiết so với bản kết luận điều tra thì Kiểm sát viên có thể thực hiện. Trên cơ sở hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra và các tài liệu khác, Kiểm sát viên cần tổng hợp, đánh giá, phân tích toàn bộ vụ án, đây là hoạt động độc lập của Kiểm sát viên.

- Hệ thống các chứng cứ buộc tội. Các chứng cứ buộc tội gồm có lời khai nhận tội của bị can, lời khai người làm chứng về các tình tiết liên quan đến hành vi của bị can, nhân thân bị can, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng, giám định chuyên môn, giám định pháp y, kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và của Kiểm sát viên. . . Đây là các căn cứ hết sức quan trọng khẳng định tính có căn cứ của hành vi phạm tội của bị can, đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để Kiểm sát viên tiến hành tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

- Hệ thống các chứng cứ gỡ tội. Đó là các chứng cứ chứng minh sự ngoại phạm của bị can. Những tài liệu đó bao gồm lời khai bị can, người làm chứng và các tài liệu khác khẳng định bị can không phạm tội hoặc phạm tội nhẹ hơn. Ngoài ra, chứng cứ gỡ tội còn thể hiện các tài liệu đã thu thập có nhiều mâu thuẫn, nhưng không được giải quyết, như các lời khai của bị can, người làm chứng mâu thuẫn với nhau, hoặc lời khai đó không phù hợp với hiện trường. Kiểm sát viên phải hệ thống đầy đủ và nắm chắc các mâu thuẫn này vì đó là các nội dung mà bị cáo, người bào chữa. . . sẽ sử dụng triệt để tại phiên Toà. Đối với các chứng cứ gỡ tội, Kiểm sát viên cần chú ý đối chiếu với các quy định của pháp luật để xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc gỡ tội cho bị can. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng được tổng hợp.

- Cuối cùng, Kiểm sát viên tổng hợp vụ án theo các nội dung cơ bản như: vụ án có bao nhiêu bị can hành vi của các bị can phạm tội gì, cần áp dụng điểm, khoản, điều nào của BLHS, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các chứng cứ buộc tội, các chứng cứ gỡ tội. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề xuất xử lý vụ án theo theo quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật TTHS.

d. Hoạt động của Kiểm sát viên trong trường hợp Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (K1 Điều 179, Điều 196)

- Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba "xét xử sơ thẩm" của BLTTHS 2003;

- Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT – VKSNDTC – BCA-TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

Căn cứ Điều 179 BLTTHS thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây: Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 01/2010 có quy định cụ thể hóa những căn cứ để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong từng trường hợp. Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.

Hoạt động của Kiểm sát viên viên trong trường hợp Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung:

- Nghiên cứu nội dung quyết định trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án, xác định lý do, căn cứ Toà án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung. Xem xét lại các tài liệu có trong hồ sơ để xác định những yêu cầu của Toà án đã được phản ánh trong hồ sơ như thế nào? Các yêu cầu đó đã đúng với tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quy định của BLHS, BLTTHS hay không?

- Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung. Căn cứ Điều 179 BLTTHS và Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 thì Thẩm quyền ban hành quyết định trả hồ sơ phải là thẩm phán chủ toạ phiên toà; Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải nêu rõ thuộc trường hợp cụ thể nào quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 179 BLTTHS và những vấn đề cụ thể cần điều trả bổ sung. Trong quyết định này không được nêu kết quả điều tra bổ sung có ý nghĩa như thế nào đối với việc giải quyết vụ án và Toà án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần.

+ Nếu xác định việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án là không đúng thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện về nội dung quyết định trả hồ sơ; phân tích sự thiếu căn cứ và không hợp pháp của quyết định này (chứng minh bằng hồ sơ vụ án và các quy định của BLTTHS) hoặc xác định rõ các yêu cầu của Toà án là không thể thực hiện được hoặc xác định rõ vấn đề Toà án yêu cầu hoàn toàn có thể làm rõ tại phiên toà và Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết là: Chuyển lại hồ sơ cho Toà án, tiếp tục đề nghị truy tố. Nếu lãnh đạo đồng ý thì Kiểm sát viên lập văn bản trả lời Toà án, trong đó nêu rõ lý do và quan điểm truy tố của Viện kiểm sát.

+ Nếu xác định việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án là đúng thì Kiểm sát viên phải báo cáo với lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ và lãnh đạo Viện, đồng thời đề xuất rõ phương hướng bổ sung chứng cứ theo yêu cầu của Toà án theo một trong những cách sau đây:

+ Nếu những yêu cầu điều tra bổ sung không quá phức tạp và Viện kiểm sát có thể tiến hành được theo quy định của BLTTHS, Quy chế nghiệp vụ của ngành thì Kiểm sát viên đề xuất không phải trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra mà Viện kiểm sát tự mình bổ sung chứng cứ. Nếu lãnh đạo Viện đồng ý với phương án này thì Kiểm sát viên phải lập kế hoạch cụ thể để tiến hành việc bổ sung chứng cứ và thông qua lãnh đạo đơn vị phê duyệt (cần thiết thì xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện).

+ Nếu các yêu cầu điều tra bổ sung quá phức tạp thì Kiểm sát viên đề xuất với lãnh đạo Viện trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra tiến hành việc điều tra bổ sung. Trong văn bản trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra cũng phải nêu rõ lý do, những yêu cầu điều tra bổ sung cụ thể; thời hạn thực hiện.

- Sau khi có kết quả điều tra bổ sung (do Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra thực hiện), Kiểm sát viên phải xem xét kỹ các tài liệu này và đánh giá với hệ thống tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án xem đã đầy đủ, chính xác chưa? Có đúng với yêu cầu điều tra bổ sung của Toà án không?.

- Đối với trường hợp tài liệu điều tra bổ sung không làm thay đổi nội dung quyết định truy tố trước đây hoặc việc điều tra bổ sung không thể tiến hành theo yêu cầu của Toà án thì Kiểm sát viên báo cáo với lãnh đạo Viện để ban hành văn bản trả lời Toà án và giữ nguyên quan điểm truy tố.

- Đối với trường hợp tài liệu điều tra bổ sung làm thay đổi nội dung quyết định truy tố, cụ thể như:

+ Thay đổi về tội danh, hoặc xác định có đồng phạm khác thì Kiểm sát viên phải đề xuất với lãnh đạo Viện yêu cầu Cơ quan điều tra thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Sau khi hoàn thành việc điều tra bổ sung, Kiểm sát viên phải lập lại bản cáo trạng để phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mới thu thập được.

+ Trường hợp thay đổi về điểm, khoản, áp dụng của điều luật... thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra kết luận điều tra bổ sung sau đó lập cáo trạng truy tố theo điểm, khoản mới...

- Đối với trường hợp tài liệu điều tra bổ sung dẫn đến việc phải đình chỉ điều tra vụ án, bị can theo quy định của BLHS và BLTTHS thì Kiểm sát viên báo cáo với lãnh đạo Viện quyết định. Trường hợp đình chỉ toàn bộ vụ án thì phải thông báo cho Toà án biết còn việc đình chỉ một phần vụ án (đình chỉ một hay nhiều bị can) thì phải tiếp tục lập cáo trạng để truy tố các bị can còn lại. Việc thay đổi nội dung quyết định truy tố đều phải thông báo cho bị can, những người tham gia tố tụng.

e. Kiểm sát việc chuẩn bị xét xử của Toà án.

VBQPPL

-BLTTHS năm 2003 (Khoản 2 Điều 176, Điều 178, Khoản 2 Điều 57, Điều 160, Điều 180, Khoản 1 Điều 105, Điều 107, Điều 183)

-Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba "xét xử sơ thẩm" của BLTTHS 200 

- Kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử.

+ Kiểm sát viên phải kiểm sát thời hạn ban hành một trong những quyết định sau đây của Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

+ Các quyết định này đều phải được Thẩm phán chủ toạ phiên toà đưa ra trong thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 176 BLTTHS. Thời hạn chuẩn bị xét xử đã được Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn cụ thể tại mục 1.2 Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004. Nếu quá thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 176 BLTTHS mà Thẩm phán chưa ban hành một trong những quyết định trên thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Thẩm phán chuyển ngay cho Viện kiểm sát quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử.

- Kiểm sát việc áp dụng thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn.

Đối với các quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn thì Kiểm sát viên phải kiểm sát tính hợp pháp của các quyết định này với các yêu cầu sau:

+ Căn cứ Điều 177 BLTTHS thì việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam phải do Chánh án hoặc Phó Chánh án thực hiện; các biện pháp ngăn chặn khác do Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà thực hiện.

+ Thời hạn tam giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 BLTTHS và tại Mục 2.2 Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán - TAND tối cao. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa. Kiểm sát viên phải phát hiện và kiến nghị kịp thời các trường hợp để quá hạn tạm giam của Toà án.

- Kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Kiểm sát nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có đầy đủ 10 nội dung theo Điều 178 BLTTHS. Trong đó chú ý đến:

+ Thành phần Hội đồng xét xử, danh sách những người tham gia tố tụng được triệu tập đến phiên toà.

+ Sự tham gia phiên toà của người giám hộ cho người chưa thành niên; luật sư; người bào chữa trong các vụ án theo quy định của điểm a, điểm b khoản 2 Điều 57 BLTTHS.

+ Sự tham gia của những người mà lời khai của họ có giá trị chứng minh tại phiên toà, như nhân chứng, bị hại.. nếu những người đó vắng mặt thì sẽ gây khó khăn cho việc xác định sự thật của vụ án. Nếu thấy nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa đầy đủ hoặc chưa đúng thì phải kiến nghị ngay với Toà án để bổ sung.

+ Kiểm sát việc giao quyết định này cho Viện kiểm sát, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậm nhất 10 ngày trước khi mở phiên toà. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử phải kiểm sát thời hạn mở phiên toà theo quyết định tại khoản 2 Điều 176 BLTTHS.

- Kiểm sát việc tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án.

Kiểm sát viên phải xác định tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, cụ thể là:

+ Đối với quyết định tạm đình chỉ vụ án cần kiểm tra: Thẩm quyền ra quyết định này; căn cứ để tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 160 BLTTHS; sau khi Toà án tạm đình chỉ thì có thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của tố tụng hình sự như phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo với trường hợp không rõ bị cáo ở đâu, phải ra quyết định bắt buộc chữa bệnh khi bị cáo bị bệnh tâm thần…

+ Đối với quyết định đình chỉ vụ án: Cần kiểm sát các căn cứ mà Toà án đình chỉ theo đúng theo quy định tại Điều 180 BLTTHS. Chú ý là Toà án chỉ được đình chỉ theo một trong các căn cứ sau: Khoản 1 Điều 105 BLTTHS (người có yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà); các căn cứ theo các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 107 BLTTHS; khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên toà.

+ Nếu phát hiện thấy việc đình chỉ, tạm đình chỉ không đúng thì báo cáo lãnh đạo Viện để xem xét quyết định việc kháng nghị phúc thẩm.

- Kiểm sát việc giao quyết định của Toà án.

+ Bảo đảm việc giao quyết định của Tòa án theo quy định tại Điều 182 BLTTHS;

+ Để kiểm sát việc Toà án giao các quyết định thì Kiểm sát viên sau khi nhận được các quyết định này cần yêu cầu Toà án gửi cho những người khác theo quy định, thông qua hoạt động kiểm sát phần thủ tục tại phiên toà hoặc khiếu nại của người bào chữa, bị can, bị cáo để phát hiện các vi phạm của Thẩm phán, Thư ký trong việc giao các quyết định để có kiến nghị kịp thời với Chánh án.

f. Báo cáo án với lãnh đạo viện.

- Một số vấn đề cần lưu ý.

+ Trước khi tham gia phiên toà Kiểm sát viên phải báo cáo với lãnh đạo Viện về việc giải quyết vụ án. Việc báo cáo án phải bằng văn bản, ghi rõ lý lịch của bị cáo, tóm tắt nội dung vụ án, diễn biến quá trình điều tra, hành vi phạm tội của từng bị cáo, chứng cứ buộc tội, gỡ tội, những mâu thuẫn của các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Đề xuất đường lối giải quyết vụ án, áp dụng các điều luật để xử lý…

+ Ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Viện cần được ghi chép lại đầy đủ. Những vụ án được đưa ra Uỷ ban kiểm sát hoặc thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên cần phải lưu lại các văn bản đó trong hồ sơ kiểm sát (không để vào hồ sơ chính). Đối với những vụ án phức tạp, quan trọng cần phải có sự chỉ đạo chặt chẽ của các ngành, Kiểm sát viên phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình họp trù bị với Toà án.

+ Kiểm sát viên phải chuẩn bị trước nội dung, những vấn đề Tòa án đưa ra trao đổi hoặc Viện kiểm sát đưa ra trao đổi; phương pháp giải quyết, thời gian, địa điểm xét xử; triệu tập người có liên quan; tình hình sức khỏe, tâm lý bị can, bị cáo; phương pháp tuyên truyền. Đối với vụ án phức tạp mà Viện kiểm sát chủ trì họp thì có thể mời lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác tham dự (Điều 7 Quy chế công tác THQCT& KSXX các vụ án hình sự).

- Báo cáo án.

+Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 36 Bộ luật TTHS, thì việc truy tố bị can trước Toà án do Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định. Vì vậy, sau khi nghiên cứu, tổng hợp vụ án, Kiểm sát viên phải chuẩn bị xây dựng bản báo cáo vụ án và đăng ký lịch để báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp.

+Nội dung bản báo cáo án của Kiểm sát viên phải căn cứ vào quy định tại Điều 6 Quy chế công tác THQCT&KSXX. Tuỳ theo tính chất mức độ nghiêm trọng, phức tạp của vụ án mà Kiểm sát viên đăng ký báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng, tập thể lãnh đạo Viện Kiểm sát hoặc báo cáo Uỷ ban kiểm sát nghe và cho ý kiến.

+ Về hình thức: Văn bản báo cáo án phải ghi rõ ngày, tháng, năm báo cáo án, người báo cáo án phải ký tên, nêu ý kiến của Kiểm sát viên là lãnh đạo đơn vị (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là lãnh đạo Vụ, ở Viện Kiểm sát tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là lãnh đạo cấp Phòng). Văn bản báo cáo án phải được lưu giữ trong hồ sơ kiểm sát vụ án. Bản báo án phải ghi rõ lý lịch bị can: họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, thành phần xã hội, quan hệ gia đình, những đặc điểm cơ bản thuộc về nhân thân như tiền án, tiền sự... của bị can, ngày tạm giam. Ngoài ra, báo cáo cũng ghi đầy đủ về các thông tin của người bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp.

+ Về nội dung bản báo cáo: Báo cáo án phải nêu tóm tắt nội dung vụ án, cụ thể là: thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nơi phạm tội. Diễn biến của hành vi phạm tội. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? vụ án do một hay nhiều người thực hiện, có đồng phạm không, vai trò trách nhiệm từng người trong vụ án; tính chất lỗi của từng người tham gia? mục đích và động cơ phạm tội của từng người? tính chất và mức độ thiệt hại (về vật chất và phi vật chất)? Báo cáo cần phân tích và viện dẫn đầy đủ các chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, cụ thể là: lời khai nhận tội hoặc chối tội của bị can, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy, yêu cầu Kiểm sát viên phải báo cáo đầy đủ các lời khai (kể cả lời khai do cơ quan điều tra thu thập và các lời khai do Viện kiểm sát thu thập) để lãnh đạo có đầy đủ các thông tin trước khi quyết định phương hướng xử lý vụ án. Báo cáo cụ thể biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi; các vật chứng thu thập được, những dấu vết, tài liệu thu thập được có ý nghĩa chứng minh hoặc phủ nhận hành vi phạm tội. Kết luận giám định về những vấn đề xác định sự thật vụ án (giám định tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, giá trị tài sản, tỷ lệ thương tật, tốc độ xe cơ giới, vật liệu nổ, vũ khí, tiền giả, séc giả, ma tuý, tài chính...). Báo cáo cần nêu rõ những điểm khác nhau và những mâu thuẫn trong các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Khi báo cáo Kiểm sát viên có thể đọc văn bản đã được chuẩn bị, sau đó, trình bày thêm trên sơ đồ hiện trường, bàn chiếu.

+ Báo cáo về áp dụng pháp luật: Báo cáo cần đối chiếu giữa hành vi phạm tội của bị can với các quy định của BLHS để xác định rõ hành vi của bị can phạm tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS. Ngoài quy định của BLHS, Kiểm sát viên cần căn cứ vào các văn bản pháp luật khác để viện dẫn áp dụng đối với bị can, nhất là trong các trường hợp điều luật quy định về tội phạm của BLHS lại dưới dạng quy định cần viện dẫn các văn bản pháp luật khác. Ngoài ra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật như các thông tư liên tịch, các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về những nội dung có liên quan.

+ Về đề xuất đường lối giải quyết vụ án. Để cho việc đề xuất có căn cứ, ngoài việc nêu những căn cứ chứng minh bị can phạm tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS, báo cáo án cần xác định rõ những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (Điều 46, 48 BLHS), trong đó, cần phân biệt rõ những tình tiết có tính chất tăng nặng hoặc giảm nhẹ chung đối với tất cả các bị can, bị cáo trong vụ án có đồng phạm (phạm tội có tổ chức, phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn...) và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ chỉ gắn liền với từng bị can, bị cáo như tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, tự thú, thật thà thành khẩn khai báo, tố giác tội phạm, lập công chuộc tội, người phạm tội là người già, phụ nữ có thai, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần... Trong trường hợp vụ án vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ thì báo cáo án phải đánh giá toàn diện trên tất cả các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để xác định ảnh hưởng của các tình tiết tăng nặng hay các tình tiết giảm nhẹ lớn hơn. Trên cơ sở đó, đề xuất hướng xử lý phạt tăng nặng hay giảm nhẹ đối với bị can, bị cáo, đồng thời cũng cần xác định rõ bị can, bị cáo có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự hay không? có thể đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo hoặc áp dụng các hình phạt nhẹ như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ không, hay phải đề nghị Toà án áp dụng những hình phạt nghiêm khắc. . .

+ Nội dung báo cáo vụ án cũng cần đề cập đến các tình tiết mà qua nghiên cứu hồ sơ thấy khác với kết luận điều tra, những nội dung mà Viện kiểm sát yêu cầu điều tra, nhưng quá trình điều tra chưa được làm rõ. Đối với các nội dung mà cơ quan điều tra chưa làm rõ thì Kiểm sát viên cũng cần nêu rõ các phương pháp tiến hành. Như cần xác minh thêm vấn đề gì, ai xác minh và thời gian tiến hành... Đối với các vấn đề cần thay đổi nội dung các tình tiết của vụ án so với bản kết luận điều tra hoặc thay đổi diện truy tố cũng cần báo cáo kỹ với lãnh đạo Viện.

+ Đối với các bị can kêu oan, những vấn đề mà dư luận xã hội đề cập đến các tình tiết của vụ án như điều tra không khách quan, bỏ lọt tội phạm... thì Kiểm sát viên cần báo cáo đầy đủ với Lãnh đạo Viện.

+ Khi báo cáo án, các Kiểm sát viên cần trả lời mạch lạc các câu hỏi của Viện trưởng và các thành viên hội nghị. Những vấn đề nào chưa trả lời được thì ghi chép trả lời sau. Sau khi nghiên cứu kỹ các tình tiết của hồ sơ vụ án, những ý kiến chất vấn của lãnh đạo Viện Kiểm sát sẽ được giải trình cụ thể.

g. Báo cáo rút truy tố trước khi mở phiên toà sơ thẩm.

VBQPPL

-BLTTHS năm 2003 (các Điều 156, 107, 81, 180, 196 )

-BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (các Điều 19, 25 và khoản 2 Điều 69)

 

- Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên thấy cần phải rút quyết định truy tố trước khi mở phiên toà thì phải báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình xem xét quyết định.

- Căn cứ Điều 181 BLTTHS, Viện kiểm sát rút quyết định tuy tố trước khi mở phiên toà trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Khi có một trong bảy căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHS thì Viện kiểm sát phải rút quyết định truy tố: Không có sự kiện phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đặc xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

Trường hợp thứ hai: Khi có căn cứ theo quy định tại Điều 19 BLHS (quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội); Điều 25 BLHS (quy định về việc miễn trách nhiệm hình sự); khoản 2 Điều 69 BLHS (quy định về miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên) thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo. Nhưng cũng cần lưu ý rằng: Việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị can phải được xem xét quyết định ngay ở giai đoạn quyết định việc truy tố. Vì vậy, khi hồ sơ đã chuyển cho Toà án thì Viện kiểm sát chỉ rút quyết định truy tố để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự khi có những căn cứ mới.

- Báo cáo đề xuất của kiểm sát viên với lãnh đạo viện kiểm sát về việc rút quyết định truy tố phải được thể hiện bằng văn bản trình bày rõ ràng các yêu cầu:

+ Tóm tắt nội dung quyết định truy tố, căn cứ để rút quyết định truy tố là gì (nêu rõ nguồn ở đâu, đã là chứng cứ chưa, chứng cứ đó thoả mãn những quy định nào của Điều 107 BLTTHS, Điều 19, Điều 25, khoản 2 Điều 69 BLHS...).

+ Quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên về vấn đề này như thế nào (rút toàn bộ; hay rút một phần, cụ thể rút vấn đề gì với ai, lý do, hướng giải quyết tiếp theo của vụ án là gì...).

- Đề xuất của Kiểm sát viên rút quyết định truy tố phải được lãnh đạo trực tiếp (lãnh đạo Vụ, Trưởng phòng, Phó Viện trưởng) có ý kiến cụ thể, sau đó báo cáo với Viện trưởng cho ý kiến quyết định cuối cùng. Với những vụ án phức tạp về đánh giá chứng cứ, vướng mắc về quan điểm giải quyết thì phải báo cáo VKSND cấp trên (cần chú ý: Mọi hoạt động nghiệp vụ chỉ được giải quyết trong thời hạn chuẩn bị xét xử của Toà án theo quy định của BLTTHS).

- Đối với những vụ án do cấp trên uỷ quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, nếu Viện kiểm sát uỷ quyền có tài liệu là căn cứ rút quyết định truy tố thì trình tự làm như trên và ban hành quyết định rút quyết định truy tố, sau đó chuyển văn bản cho Viện kiểm sát được uỷ quyền để chuyển cho Toà án đang thụ lý hồ sơ vụ án thực hiện các bước tiếp theo quy định của BLTTHS.

- Nếu Viện kiểm sát được uỷ quyền có những căn cứ để rút quyết định truy tố thì phải làm văn bản báo cáo Viện kiểm sát cấp trên đã uỷ quyền, nêu rõ lý do, quan điểm (kèm theo tài liệu làm căn cứ rút quyết định truy tố) để Viện kiểm sát đã uỷ quyền quyết định việc rút quyết định truy tố.

h. Xây dựng đề cương xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa.

- Xây dựng đề cương xét hỏi.

Hoạt động của Kiểm sát viên:

+ Trước khi tham gia phiên toà, Kiểm sát viên phải dự thảo đề cương xét hỏi và những nội dung cần làm rõ tại phiên toà như: Hỏi về hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích, hậu quả, công cụ, phương tiện phạm tội, thủ đoạn phạm tội…

+ Dự kiến những tình huống, diễn biến có thể xảy ra tại phiên toà như thái độ tâm lý của bị cáo, khả năng phản cung của bị cáo, thay đổi lời khai của những người tham gia tố tụng. Dự kiến những tài liệu, chứng cứ đưa ra để đấu tranh với bị cáo, trích đọc lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, dự kiến đối chất tại phiên toà để giải quyết các mâu thuẫn…

+ Chuẩn bị những câu hỏi đối với người làm chứng, người bị hại, người giám định và những người tham gia tố tụng khác. Phải dự kiến đầy đủ nội dung cần hỏi đối với từng đối tượng. Ví dụ, đối với người bị hại cần phải hỏi kỹ về yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu xử lý đối với bị cáo và các tình tiết của vụ án mà họ có thể biết được. Đối với người làm chứng cần chú ý hỏi về những tình tiết của vụ án mà họ biết, về quan hệ của họ với bị can, bị cáo, đối với người giám định, chủ yếu nêu những câu hỏi về những căn cứ khoa học về kết luận giám định.v.v

+ Dự kiến những vấn đề mà người bào chữa hoặc bị cáo quan tâm để đặt ra những câu hỏi làm sáng tỏ…

+ Nội dung các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, không đặt các câu hỏi mớm cung, dụ cung .v.v.

- Dự kiến những vấn đề cần tranh luận tại phiên toà.

+ Để bảo đảm việc tranh luận có hiệu quả, đòi hỏi Kiểm sát viên phải dự kiến được những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đưa ra trong phiên toà. Thường đó là những vấn đề về đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân bị cáo, những điểm mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án, vai trò của bị cáo trong đồng phạm v.v…

+ Chuẩn bị lý lẽ để bác bỏ những quan điểm sai trái, không đúng của bị cáo, người bào chữa trên cơ sở viện dẫn chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, đường lối, chính sách pháp luật.

+ Phải chuẩn bị đầy đủ các văn bản pháp luật cần thiết có liên quan đến vụ án để khi cần thiết trích đọc hoặc viện dẫn có căn cứ, chính xác.

+ Để đảm bảo tranh luận tại phiên toà đạt chất lượng tốt đòi hỏi Kiểm sát viên phải nắm vững và đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện và tổng hợp, phải coi trọng cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, các tình tiết có liên quan đến vụ án phải kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các chứng cứ tài liệu được thu thập trong quá trình điều tra giải quyết vụ án.

2.1.2. Xây dựng dự thảo luận tội:

a.Yêu cầu của bản dự thảo luận tội.

VBQPPL

Quy chế THQCT&KSXXHS (Điều 23)

BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (các Điều 41, 42, 43, 44, 50, 51)

Yêu cầu về bảo đảm tính chính xác cao:

- Những nội dung của bản tội đã được chứng minh bằng các chứng cứ được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Các tình tiết, chứng cứ nêu trong bản luận tội là có thực và được thể hiện tại các bút lục của hồ sơ vụ án.

- Các căn cứ áp dụng cũng phải được bảo đảm đúng với các điểm, khoản, điều mà Kiểm sát viên trích dẫn.

- Việc mô tả hành vi phạm tội, phân tích đánh giá chứng cứ, phân tích vai trò trách nhiệm của bị cáo gắn liền với việc viện dẫn chứng cứ để chứng minh phải chính xác, lôgíc.

- Việc đề xuất đường lối xử lý phải trên cơ sở phân tích đánh giá chứng cứ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân người phạm tội, vai trò trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời, xem xét đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan để cân nhắc lựa chọn điều, khoản của BLHS để đề xuất Toà án áp dụng pháp luật xử lý chính xác, phù hợp với tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra.

Yêu cầu về tính đấu tranh và tính thuyết phục cao:

- Tính đấu tranh: Bản luận tội phải phê phán và lên án mạnh mẽ trước dư luận về những hành vi phạm tội của bị cáo. Tính đấu tranh còn thể hiện không chỉ là lời cảnh cáo đối với người có hành vi phạm tội, nhận rõ được tác hại của mình khi gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà còn có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa tội phạm.

- Tính thuyết phục: Khi Kiểm sát viên trình bày xong bản luận tội được người nghe đánh giá là có tình có lý.

Yêu cầu về tuyên truyền giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 23 Quy chế THQCT&KSXX thì một trong những yêu cầu của bản luận tội là phải xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật.

Yêu cầu về việc bảo vệ cáo trạng.

Căn cứ  Điều 167, Điều 217 BLTTHS thì nếu bản cáo trạng là quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát về việc truy tố người phạm tội ra Toà án để xét xử, thì bản luận tội là quan điểm của Kiểm sát viên về tội trạng của bị cáo nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của cáo trạng. Do vậy, nội dung của bản luận tội phải bám sát nội dung truy tố của bản cáo trạng. Bản cáo trạng truy tố những hành vi phạm tội nào, bị can nào thì nội dung của bản luận tội phải phân tích, đánh giá kết luận về hành vi phạm tội đó và bị can đó, không được bỏ sót vấn đề nào.

Yêu cầu về việc kiểm tra chứng cứ tại phiên toà.

Điều 217 Bộ luật TTHS quy định "Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà”. Vì vậy, Kiểm sát viên phải tham gia xét hỏi để làm sáng tỏ những hành vi phạm tội và các tình tiết khác liên quan đến vụ án mà cáo trạng đã truy tố.

Yêu cầu về việc kết hợp giữa luận tội và luận chứng.

 Nếu như luận tội là việc phê phán, lên án hành vi, thủ đoạn phạm tội, nêu lên những nguyên nhân và điều kiên phạm tội, những bài học cảnh giác trong nhân dân, đề xuất hình thức xử lý thì luận cứ là phân tích, đánh giá, kết luận về các tình tiết, các chứng cứ của vụ án một cách khoa học, lôgíc để xác định tội phạm và người phạm tội theo các điều, khoản của BLHS. Nội dung dự thảo bản luận tội đối với bất cứ vụ án nào, dù vụ án đó được phát hiện quả tang, chứng cứ rõ ràng, đơn giản vẫn phải thể hiện đầy đủ yêu cầu luận tội kết hợp với luận cứ.

b. Cơ cấu và nội dung của bản dự thảo luận tội.

VBQPPL

Quy chế THQCT&KSXXHS (Điều 23)

BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (các Điều 41, 42, 43, 44, 50, 51) 

- Cơ cấu bản luận tội: Để thống nhất chung cho toàn ngành, VKSND tối cao đã có mẫu hướng dẫn số 136 kèm theo Quy chế THQCT&KSXXHS về viết luận tội với cơ cấu gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.

- Nội dung bản dự thảo luận tội:

Phần mở đầu

Phần mở đầu có hai nội dung cần đề cập:

- Tự giới thiệu bản thân người trình bày bản luận tội và mục đích, ý nghĩa của việc đưa vụ án ra xét xử và được bắt đầu bằng câu: "Thư¬¬a Hội đồng xét xử". Phần này cần ghi rõ họ tên, chức vụ, đại diện cho Viện kiểm sát nơi Kiểm sát viên công tác. Khi nêu tên vụ án cũng cần lưu ý, nếu vụ án có nhiều bị cáo và phạm nhiều tội thì chỉ nêu tên bị cáo chính và tên tội danh chính.

- Nêu ý nghĩa và tầm quan trọng của vụ án: phần này theo hướng dẫn chỉ giới thiệu tóm tắt tội danh của vụ án, các bị cáo được đưa ra xét xử, không nêu nội dung vụ án. Vì vậy, chỉ nêu ngắn gọn về tên vụ án, mục đích, ý nghĩa của việc đưa vụ án ra xét xử như tình hình địa phương nơi xảy ra vụ án, hậu quả nghiêm trọng của vụ án. Phần này cũng nên ghi ngắn gọn, tránh nêu dài dòng.

Phần nội dung

Đây là phần quan trọng nhất yêu cầu Kiểm sát viên phải giải quyết một loạt vấn đề nhằm làm rõ chứng cứ chứng minh tội phạm, nêu lên tác hại của hành vi phạm tội và phân tích những bài học phòng ngừa. Thông thường nội dung này của bản luận tội được chia làm ba phần.

- Phân tích, tổng hợp chứng cứ trong bản luận tội: Trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Kiểm sát viên cần đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ để xác định được sự thật của vụ án; xác định tội phạm đã xảy ra và người phạm tội; hành vi phạm tội đã diễn ra như thế nào, nêu chứng cứ chứng minh (lời khai, kết quả giám định, các biên bản...) chứng từ… có đánh nêu bút lục, nêu đúng hành vi phạm tội và viện dẫn chứng cứ chứng minh. Sau khi chứng minh toàn bộ hành vi phạm tội, lưu ý cả hậu quả của tội phạm, ý thức chủ quan. Nếu có lời bào chữa của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác thì phải lập luận, bác bỏ hoặc chấp nhận và viện dẫn chứng cứ chứng minh. Từ đó, Kiểm sát viên đánh giá tổng hợp, kết luận về sự việc phạm tội, người phạm tội và viện dẫn các chứng cứ để chứng minh tội phạm như: Các biên bản khám nghiệm, kiểm tra, thu giữ vật chứng, giám định pháp y, sổ sách, chứng từ, lời khai của bị cáo, người bị hại, người liên quan, nhân chứng… trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa (có phân tích, đánh giá những mâu thuẫn để kết luận đúng, sai rõ ràng). Trên cơ sở đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án, Kiểm sát viên sẽ khẳng định nội dung truy tố của bản cáo trạng là hoàn toàn đúng hoặc có vấn đề gì cần thay đổi như: Rút quyết định truy tố, thay đổi tội danh, khung hình phạt nhẹ hơn… Đối với những vấn đề, tình tiết mới phát hiện tại phiên tòa có thể làm thay đổi nội dung, tính chất của vụ án, nếu chưa được thẩm tra đầy đủ, chưa có đủ căn cứ thì không thể kết luận mà phải đề nghị hoãn phiên tòa để điều tra xác minh. Khi phân tích đánh giá chứng cứ đối với vụ án có bị cáo phạm nhiều tội, thì phải tuân theo quy định đi từ tội phạm nghiêm trọng đến tội phạm ít nghiêm trọng. Có thể xếp thành nhóm tội phạm có liên quan chặt chẽ với nhau để cùng phân tích đánh giá như: Tội giết người và cướp tài sản, tội đưa hối lộ và nhận hối lộ... Cần tránh việc sao chép nội dung của bản cáo trạng vào nội dung luận tội.

- Phân tích đánh giá tình chất, mức độ tội phạm, vai trò, vị trí, trách nhiệm của bị cáo (hoặc từng bị cáo). Trên cơ sở đánh giá chứng cứ để phân tích đánh giá chung tính chất, mức độ của vụ án, tính chất  hành vi và thủ đoạn phạm tội, xem xét mục đích và động cơ phạm tội, mức độ hậu quả do tội phạm gây ra; phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS theo đúng quy định của BLHS đối với từng bị cáo; xác định nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh… phạm tội. Đánh giá, xác định vị trí, trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án theo trật tự các tội nghiêm trọng trước, ít nghiêm trọng sau; sắp xếp các bị cáo theo thứ tự về vai trò trong vụ án như trong cáo trạng. Đối với từng bị cáo cũng phải phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với họ. Khi phân tích, xác định vài trò, trách nhiệm của bị cáo nào xong thì kết luận bị cáo đã phạm tội gì, tội đó được quy định tại điều, khoản, điểm nào của BLHS. Nêu những thiếu sót sơ hở, vi phạm trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội… và nguyên nhân điều kiện tội phạm phát sinh, từ đó có kiến nghị với các cơ quan, đơn vị rút kinh nghiệm, đề ra biện pháp xử lý, sửa chữa.

- Đề nghị xử lý:  Trên cơ sở đánh giá, phân tích tính chất, mức độ hậu quả của vụ án, mục đích và động cơ phạm tội, thủ đoạn thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS của vụ án, vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ được áp dụng cho từng bị cáo; nguyên nhân, điều kiện phạm tội … có chú ý đến tình hình đấu tranh chống tội phạm nói chung, một loại tội nào đó nói riêng; tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa ph¬ương… mà đề nghị xử lý đối với từng bị cáo. Khi đề nghị xử lý phải theo thứ tự sau:

+ Đề nghị hình phạt chính trước, đối với bị cáo chính trước (theo trật tự như đã nêu ở phần đánh giá vài trò, trách nhiệm của từng bị cáo). Bị cáo phạm nhiều tội phải đề nghị hình phạt cho từng tội riêng biệt và tổng hợp theo quy định tại Điều 50 BLHS. Nếu bị cáo đang chấp hành một bản án khác thì phải đề nghị tổng hợp hình phạt theo Điều 51 BLHS.

+ Hình phạt bổ sung: Tất các bị cáo bị xét xử về các tội phạm mà theo quy định của BLHS, việc áp dụng hình phạt bổ sung là bắt buộc thì đều phải đề nghị áp dụng. Nếu đề nghị không áp dụng phải nêu rõ lý do. Đối với hình phạt bổ sung mà luật quy định có thể (tuỳ nghi) thì phải cân nhắc để giải quyết tội nào, với bị cáo nào thì áp dụng; tội nào, với bị cáo nào thì không áp dụng.

+ Các biện pháp tư pháp quy định tại các điều 41, 42, 43, 44 BLHS. Chú ý khi đề nghị bồi thường thiệt hại cần cụ thể, tránh nêu chung chung.

Phần kết luận của bản luận tội.

Phần này cần lưu ý những vấn đề sau:

- Lưu ý Hội đồng xét xử về yêu cầu, mục đích, tầm quan trọng… của việc xét xử vụ án để có quyết định chính xác.

- Lưu ý Hội đồng xét xử về những quan điểm mới phát sinh tại phiên toà, những thay đổi quyết định truy tố của Viện kiểm sát tại phiên toà (nếu có) để Hội đồng xét xử lưu ý, quan tâm khi nghị án.

  2.1.3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà sơ thẩm hình sự.

a. Kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.

- Kiểm sát thủ tục bắt đầu phiên tòa.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 197, Điều 201, điều 42, 45, 46, 47, 60, 61, và 202, khoản 2 Điều 199, Điều 187, 190, 191, 192, và 193, điều 205, khoản 2 Điều 204

- Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (gọi tắt là Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP) hướng dẫn một số quy định tại phần thứ ba "xét xử sơ thẩm" của BLTTHS năm 2003.

- Nghị quyết 03/2003/NQ-HĐTP ngày 02/10/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung"của BLTTHS năm 2003 (gọi tắt là Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP);

- Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA ngày 04/7/2006 của Bộ trưởng Bộ công an ban hành Quy trình bảo vệ phiên tòa, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra tòa

+ Kiểm sát hoạt động của Thư ký Toà án tại phiên tòa theo đúng quy định tại Điều 197 BLTTHS.

+ Đề nghị hoãn phiên tòa nếu thấy số lượng hoặc thành phần Hội đồng xét xử không đúng theo quy định tại Điều 185 và Điều 307 BLTTHS.

+ Đối chiếu quyết định đưa vụ án ra xét xử do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đọc và quyết định đưa vụ án ra xét xử mà Toà án đã gửi cho Viện kiểm sát (Điều 182 BLTTHS) xem có thống nhất với nhau không? Nếu có điểm, mục nào mâu thuẫn thì cần đánh dấu hoặc ghi lại để lưu ý Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa hoặc kiến nghị khắc phục. Căn cứ Điều 201 BLTTHS thì sau khi đọc xong Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đề nghị Thư ký Toà án báo cáo danh sách những người được triệu tập đã có mặt đủ chưa? Nếu có người vắng mặt thì báo cáo lý do của sự vắng mặt đó; kiểm tra căn cước của những người được triệu tập đến phiên tòa...

+ Căn cứ kết quả kiểm tra ở giai đoạn trước khi bắt đầu phiên tòa đối chiếu với tài liệu có trong hồ sơ vụ án để phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử giải thích rõ thêm quy định của pháp luật, đề nghị tiến hành xét xử hoặc phải hoãn phiên tòa khi có căn cứ pháp luật theo quy định tại các Điều 187, 190, 191, 192, và 193 BLTTHS.

+ Căn cứ vào các điều luật tương ứng quy định tại các điều 42, 45, 46, 47, 60, 61 và 202 BLTTHS và hướng dẫn tại Phần I Nghị quyết số 03/2003/NQ-HĐTP để đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định, khi có người yêu cầu thay đổi ai trong số những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch. Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên và người giám định, người phiên dịch phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và lập thành văn bản theo quy định của khoản 2 Điều 199 BLTTHS và hướng dẫn tại phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.

+ Kiểm sát viên phải được Hội đồng xét xử hỏi ý kiến về việc giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt theo quy định tại Điều 205 BLTTHS. Việc quyết định các vấn đề này cũng phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, được ghi trong biên bản phiên tòa (Điều 199 BLTTHS).

+ Xem xét quyết định việc cách ly người làm chứng với những người có liên quan? Cách ly bị cáo với người làm chứng theo quy định của khoản 2 Điều 204 BLTTHS.

+ Nghiên cứu nắm vững việc giám sát bị cáo tại phiên toà theo quy định tại Điều 188 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 1 phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP; Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA ngày 4/7/2006 của Bộ trưởng Bộ công an ban hành Quy trình bảo vệ phiên tòa, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra tòa.

- Kiểm sát thủ tục xét hỏi tại phiên tòa.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 207, Điều 209, khoản 2 Điều 208, 210, 211 và 215)

 + Kiểm sát Hội đồng xét xử tiến hành việc xét hỏi theo đúng trình tự quy định tại Điều 207 BLTTHS. Thông qua xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án, làm cơ sở cho việc xác định tội danh, quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Khi hỏi bị cáo Hội đồng xét xử phải thực hiện câu hỏi theo khoản 2 Điều 209 BLTTHS, sau đó mới hỏi từng tình tiết của sự việc, hỏi từng bị cáo theo quy định tại khoản 1 của Điều 207 và khoản 1 của Điều 209 BLTTHS.

+ Việc công bố lời khai tại Cơ quan điều tra chỉ được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 208 BLTTHS. Kiểm sát viên phải lưu ý: Mọi chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều phải được thẩm tra, xác minh công khai tại phiên tòa. Do vậy, tuỳ theo trình tự xét hỏi và căn cứ vào khoản 2 Điều 208 BLTTHS, Hội đồng xét xử hoặc Kiểm sát viên công bố lời khai hoặc tài liệu.

+ Kiểm sát việc xét hỏi bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ; người làm chứng, người giám định được thực hiện theo quy định tại các điều 209, 210, 211 và 215 BLTTHS. Khi xét hỏi, những câu hỏi của Hội đồng xét xử, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải cụ thể, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu. Không được đặt các câu hỏi có tính chất khẳng định, câu hỏi mớm cung hoặc xúc phạm danh dự nhân phẩm của người được hỏi.

+ Kết thúc việc xét hỏi, căn cứ Điều 216 BLTTHS thì Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không? Nếu có và xét thấy cần thiết thì Chủ tọa phiên tòa phải tiếp tục việc xét hỏi.

+ Ngoài ra, trong quá trình xét xử, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa như việc có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, ý thức chấp hành nội quy phòng xử án, thái độ khai báo trong quá trình được xét hỏi v.v.. Nếu xảy ra các trường hợp trên mà Hội đồng xét xử không áp dụng các biện pháp giải quyết thì Kiểm sát viên có trách nhiệm yêu cầu Hội đồng xét xử chấn chỉnh những người có hành vi đó.

- Kiểm sát việc tuyên án.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 226, Điều 227, Điều 228)

- Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (gọi tắt là Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP) hướng dẫn một số quy định tại phần thứ ba "xét xử sơ thẩm" của BLTTHS năm 2003.

Kiểm sát viên cần chú ý:

+ Nghiên cứu nắm vững về giới hạn việc xét xử của tòa án theo quy định tại Điều 196 BLTTHS và Hướng dẫn tại mục 2 phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP như: Xét xử theo khoản nặng hơn hoặc khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật; Về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố (tiểu mục 2.2. Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP); về một tội nhẹ nhất trong các tội mà Viện kiểm sát truy tố hoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong trường hợp Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều tội đối với nhiều hành vi phạm tội (tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP).

+ Nếu xét thấy có thể xét xử bị cáo theo một trong các trường hợp trên đây, cần tuân thủ quy định của BLTTHS về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.

+ Đề nghị Hội đồng xét xử phải thực hiện đầy đủ những yêu cầu khi ghi biên bản phiên tòa theo quy định tại Điều 200 BLTTHS.

+ Nắm vững nhiệm vụ của Hội đồng xét xử trong khi tuyên án gồm: Việc tuyên án phải thực hiện đúng quy định tại Điều 226 BLTTHS và Hướng dẫn tại Mục 3 phần IV Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.

+ Xem xét việc trả tự do cho bị cáo hoặc bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 BLTTHS, Hướng dẫn tại mục 4 phần IV Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.

+ Ghi lại những nhận định quan trọng, nội dung quyết định của bản án sơ thẩm để làm căn cứ kiểm tra đối chiếu với biên bản phiên toà và báo cáo Lãnh đạo Viện (cần lưu ý cả phần lý lịch bị cáo nhất là các bị cáo có nhiều tiền án thì phải ghi cụ thể các số bản án ngày bắt thi hành bản án đó, ngày thi hành xong bản án .v.v. Đối với phần quyết định hình phạt cần chú ý việc khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù cho hưởng án treo, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo là người chưa thành niên .v.v. tất cả những tình tiết này có ý nghĩa để đối chiếu giữa bản án Tòa án tuyên tại tòa với bản án ban hành sau này để kiểm sát bản án).

b. Hoạt động của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa.

- Đọc cáo trạng.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 206) 

 + Trước khi đọc cáo trạng, Kiểm sát viên cần đứng dậy, hướng về phía Hội đồng xét xử và những người tham dự phiên tòa để có lời phát biểu ngắn mang tính “dẫn đề”. Ví dụ: Thưa Hội đồng xét xử, tôi là … đại diện Viện kiểm sát tỉnh (hoặc quận, huyện…) xin công bố bản cáo trạng hoặc nói ngắn gọn “Tôi xin công bố bản cáo trạng”.

+ Kiểm sát viên phải đọc nguyên văn bản cáo trạng, không được tự ý bớt xén lời văn hoặc sửa chữa từ, ngữ… Khi đọc bản cáo trạng, đòi hỏi Kiểm sát viên phải đọc to, rõ ràng, mạch lạc, chính xác, ngắt câu hoặc từ phải đúng lúc, đúng chỗ. Phải sử dụng từ ngữ tiếng Việt phổ thông. Không được đọc ngọng, nhịu, lỗi chính tả… Đối với các vụ án có các tên riêng tiếng nước ngoài thì phải phiên âm sang tiếng Việt và đọc chuẩn xác đúng câu từ đó.

+ Sau khi đọc cáo trạng, Kiểm sát viên có thể trình bày ý kiến bổ sung để làm rõ thêm nội dung của bản cáo trạng chứ không phải là ý kiến mới, bổ sung làm thay đổi nội dung bản cáo trạng. (trừ trường hợp được Viện trưởng đồng ý).

- Tham gia xét hỏi.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 209, Điều 208, Điều 210, Điều 212, Điều 213, Điều 216,)

- Quy chế công tác THQCT&KSXXHS (Điều 22)

 Kiểm sát viên xét hỏi để khẳng định kết quả điều tra và tìm thêm chứng cứ mới tại phiên tòa. Thông qua việc hỏi để khẳng định, chứng minh các tài liệu điều tra được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã đảm bảo tính hợp pháp hay không về mặt nội dung cũng như về mặt hình thức. Kiểm sát viên phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu quy định tại Điều 22 Quy chế công tác THQCT&KSXX và lưu ý một số hoạt động sau:

Xét hỏi bị cáo:

Khi xét hỏi bị cáo, Kiểm sát viên cần chú ý:

+ Lắng nghe, theo dõi, đối chiếu với những câu hỏi của thành viên Hội đồng xét xử, nếu họ hỏi trùng với câu hỏi của mình và bị cáo trả lời đúng rồi cần đánh dấu (hoặc gạch bỏ) để thôi không hỏi nữa. Nếu các thành viên Hội đồng xét xử hỏi trùng với câu hỏi của mình nhưng bị cáo trả lời chưa rõ thì cũng đánh dấu lại để hỏi cho rõ thêm (Trên cơ sở đề cương tham gia xét hỏi đã chuẩn bị từ giai đoạn trước).

+ Lưu ý Hội đồng xét xử yêu cầu người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tập trung đặt câu hỏi liên quan đến việc giải quyết vụ án.

+ Chỉ đặt câu hỏi đối với bị cáo (từng bị cáo) sau khi đã được sự đồng ý của Hội đồng xét xử, hoặc được Hội đồng xét xử yêu cầu hỏi.

+ Phải hỏi toàn bộ những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội của bị cáo (khoản 3 Điều 209 BLTTHS) để có cơ sở bổ sung, đề xuất trong phần luận tội (đề xuất về tội danh, hình phạt, các quyết định khác có liên quan…), trừ những câu hỏi các thành viên Hội đồng xét xử đã hỏi và bị cáo đã trả lời rõ. Câu hỏi của Kiểm sát viên phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và phải trực tiếp liên quan đến việc làm sáng tỏ các tình tiết, nội dung của vụ án.

+ Giải thích, thuyết phục bị cáo để bị cáo suy nghĩ trả lời trong trường hợp bị cáo im lặng, không khai báo hoặc thay đổi lời khai so với lời khai tại Cơ quan điều tra. Nếu bị cáo vẫn thể hiện thái độ cố tình không khai báo thì Kiểm sát viên căn cứ vào các câu hỏi tình huống đã dự kiến sẵn để nêu câu hỏi hoặc chuyển sang hỏi tiếp những người khác. Chỉ được công bố những lời khai tại Cơ quan điều tra khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 208 BLTTHS. Đồng thời chỉ cần công bố những lời khai có ý nghĩa chứng minh về các tình tiết của vụ án.

+ Yêu cầu bị cáo khai rõ lý do có sự mâu thuẫn nếu lời khai của bị cáo mâu thuẫn với lời khai tại Cơ quan điều tra để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá tính trung thực, khách quan trong lời khai của bị cáo.

+ Việc xét hỏi đối với bị cáo mà trước đó đã bị cách ly được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 209 BLTTHS.

Xét hỏi đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Kiểm sát viên cần chú ý:

+ Lắng nghe, ghi chép tất cả những ý kiến của người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người này khi họ trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ; những câu hỏi của Hội đồng xét xử và trả lời của họ. Sau đó đối chiếu với dự thảo đề cương tham gia thẩm vấn của mình. Nếu thấy đầy đủ rồi thì thôi tránh hỏi trùng lặp, nếu điểm nào chưa rõ thì hỏi cho rõ thêm.

+ Đặt câu hỏi ngắn, gọn, rõ ràng, dễ hiểu và có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng này.

 Xét hỏi người làm chứng.

Kiểm sát viên cần chú ý:

+ Lắng nghe, ghi chép lại những vấn đề có liên quan đến vụ án mà người làm chứng trình bày. Đặc biệt là các tình tiết có ý nghĩa trong việc buộc tội và gỡ tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo mà người làm chứng cung cấp. Sau khi Hội đồng xét xử hỏi, nếu thấy điểm nào chưa được làm rõ thì Kiểm sát viên hỏi, yêu cầu người làm chứng trình bày rõ thêm. Trường hợp lời khai của người làm chứng có mâu thuẫn với nhau hoặc các nhân chứng có lời khai mâu thuẫn nhau thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho phép được gọi để đối chất ngay tại phiên tòa, nhằm làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án.

+ Chú ý trạng thái tâm lý của người làm chứng để đặt câu hỏi hoặc nêu vấn đề thật cụ thể cho họ dễ trả lời. Đối với người làm chứng là người chưa thành niên thì tùy từng trường hợp có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp đỡ đầu hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi.

+ Kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung tài liệu khi có người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu mới tại phiên toà để có kết luận về tính hợp pháp và tính có căn cứ của tài liệu đó. Trường hợp chưa đủ điều kiện kết luận mà tài liệu mới đó có thể làm thay đổi nội dung, tính chất vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà để xác minh.

+ Có thể đề nghị cùng Hội đồng xét xử, người bào chữa và những người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật chứng có liên quan đến vụ án hoặc xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án, trong quá trình tham gia xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa theo quy định tại Điều 212, 213 BLTTHS.

+ Đề nghị Hội đồng xét xử cho hỏi thêm nếu sau khi đã hỏi mà thấy có vấn đề cần hỏi bổ sung để làm rõ theo quy định tại Điều 216 BLTTHS.

- Trình bày luận tội.

VBQPPL

-BLTTHS năm 2003 (Điều 217)

-BLHS (Điều 31, Điều 60, Điều 50, Điều 51, Điều 41, Điều 42, Điều 43, Điều 44 )

-Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

-Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt. 

 + Căn cứ Điều 217 BLTTHS thì Kiểm sát viên trình bày lời luận tội (sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa), đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng, hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội. Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

+ Khi trình bày lời luận tội, Kiểm sát viên phải nói to, rõ ràng, mạch lạc và khúc triết trong từng câu phát biểu, sử dụng từ ngữ phải chuẩn xác theo tiếng Việt phổ thông, tránh nói ngọng, nói nhịu hoặc sai lỗi chính tả.

+ Kết thúc phần xét hỏi quy định tại Điều 216 BLTTHS, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa thường phát biểu điều hành “Kết thúc phần xét hỏi (hoặc thẩm vấn) công khai tại phiên tòa, chuyển sang phần tranh luận, trước khi tranh luận, mời vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội ”. Kiểm sát viên phải đứng dậy hướng về phía Hội đồng xét xử và mở đầu là câu “ Thưa Hội đồng xét xử, cuộc thẩm vấn công khai tại phiên tòa đến đây đã kết thúc ” tiếp đó Kiểm sát viên tự giới thiệu về mình, tư cách pháp lý và nhiệm vụ của mình tại phiên tòa, tên vụ án. “ phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án…”

+ Tiếp theo Kiểm sát viên trình bày phần nội dung của luận tội, phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu theo quy định của ngành, bao gồm:

Thứ nhất, phân tích, tổng hợp chứng cứ: Trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi, thẩm tra tại phiên tòa, luận tội phải phân tích đánh giá chứng cứ nhằm chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm (các tội cụ thể) mà bị cáo (các bị cáo) đã bị truy tố và xét xử, qua đó luận tội cần khẳng định nội dung và quyết định truy tố ghi trong cáo trạng là hoàn toàn đúng. Nếu có gì thay đổi (rút một phần quyết định truy tố, chuyển khung hình phạt hoặc chuyển tội danh nhẹ hơn .v.v…) thì cũng phải đề cập trong luận tội và thực hiện đúng các quy định của BLTTHS.

Thứ hai, việc tổng hợp, đánh giá chứng cứ phải được đánh giá theo trình tự thời gian, theo từng vụ việc, từng bị cáo. Kiểm sát viên phải nêu nội dung lời khai tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa, kết quả giám định, biên bản khám nghiệm… để đảm bảo tính có căn cứ của nội dung luận tội.

Thứ ba, phân tích đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, vị trí trách nhiệm của bị cáo (từng bị cáo trong vụ án).

Thứ tư, phân tích những sơ hở thiếu sót trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội để kiến nghị phòng ngừa.

- Đề xuất quan điểm, đường lối xử lý vụ án: Trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ, phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, vị trí, trách nhiệm của bị cáo (từng bị cáo), nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa phương… Kiểm sát viên đề xuất quan điểm đường lối xử lý vụ án cần lưu ý một số yêu cầu sau:

+ Một là, đề nghị hình phạt chính trước, đối với vụ án có nhiều bị cáo thì đề nghị theo thứ tự như đã nêu ở phần đánh giá vai trò, vị trí từng bị cáo (lưu ý phải khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ khi áp dụng Điều 31 BLHS, khấu trừ thời hạn tạm giam, tạm giữ khi áp dụng Điều 60 BLHS và áp dụng Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao). Nếu bị cáo phạm nhiều tội thì đề nghị hình phạt từng tội, sau đó tổng hợp theo Điều 50 BLHS. Nếu bị cáo phải chấp hành nhiều bản án thì tổng hợp theo Điều 51 BLHS. Nếu bị cáo bị xét xử về các tội có hình phạt bổ sung là bắt buộc thì phải đề nghị, nếu không bắt buộc thì tuỳ từng trường hợp để quyết định.

+ Hai là, các biện pháp tư pháp khác áp dụng theo quy định tại các điều 41, 42, 43, 44 BLHS. Chú ý khi đề nghị bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải căn cứ vào quy định tại các điều từ Điều 604 đến 612 Bộ luật dân sự 2005; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

- Phần kết luận: Kiểm sát viên lưu ý Hội đồng xét xử về yêu cầu, mục đích, tầm quan trọng của việc xét xử vụ án để có quyết định chính xác. Nếu có những thay đổi quyết định truy tố tại phiên toà thì lưu ý Hội đồng xét xử quan tâm khi nghị án. Thông thường, trong thực tế khi kết luận trong luận tội thường thể hiện như sau “Thưa Hội đồng xét xử! Trên đây là toàn bộ quan điểm của VKSND... đối với vụ án. Chúng tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc trong khi nghị án để đưa ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo và đảm bảo yêu cầu phòng ngừa chung”.

- Tranh luận của Kiểm sát viên.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 19, Điều 217, Điều 218 ) 

+ Kiểm sát viên phải có trách nhiệm bảo vệ quan điểm luận tội của mình, bảo vệ cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo tại phiên toà bằng việc đối đáp, tranh luận.

+ Căn cứ Điều 218 BLTTHS thì bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra ý kiến của mình. Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến để ghi nhận hay bác bỏ, nếu Kiểm sát viên chưa trả lời với từng ý kiến thì Chủ tọa phiên toà có quyền đề nghị Kiểm sát viên đối đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những tham gia tố tụng khác.

Để tranh luận tốt, Kiểm sát viên phải chú ý:

+ Lắng nghe các bên trình bày quan điểm, ý kiến của họ, vừa nghe vừa ghi lại tóm tắt để nắm được nội dung vấn đề. Nếu vụ án có nhiều người cùng bào chữa cho một bị cáo thì Kiểm sát viên có thể nghe từng người để tham gia đối đáp, hoặc tổng hợp ý kiến chung của tất cả những người bào chữa để phản biện.

+ Phân tích nội dung của vấn đề, đồng thời xác định nhanh nội dung cần đối đáp. Những nội dung, vấn đề mà các bên đưa ra phải là những nội dung có liên quan đến vụ án và phải có trong hồ sơ án. Trường hợp tài liệu mới phát sinh thì cũng phải là tài liệu có liên quan đến vụ án và phải kiểm tra nguồn gốc, tính hợp pháp của tài liệu đó để có lập luận đối đáp. Kiểm sát viên có thể đề nghị Hội đồng xét xử cắt những ý kiến của các bên không có liên quan đến vụ án để không phải đối đáp lại.

+ Chủ động đề nghị Chủ tọa phiên toà để tranh luận tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, từng nội dung cụ thể để lựa chọn nội dung nào, vấn đề nào cần đối đáp tranh luận trước v.v. Thông thường, Kiểm sát viên nên chọn những vấn đề mà trong hồ sơ vụ án đã được khẳng định cả hình thức lẫn nội dung phù hợp với kết quả thẩm tra công khai tại phiên toà để phản bác ý kiến của người bào chữa hoặc bị cáo.v.v. Khi tranh luận, cần căn cứ vào lý luận của cấu thành tội phạm, lý luận về chứng cứ để lập luận có tính lôgic từng vấn đề, để từ đó phản bác các ý kiến của phía đối tượng. Kiểm sát viên phải nắm vững những quy định của BLTTHS để khẳng định tính có căn cứ, hợp pháp của tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đồng thời chú ý thẩm tra, xác minh công khai tại phiên toà những thiếu sót về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra để khẳng định bản chất của vụ việc đang được xem xét và phản bác những ý kiến của người bào chữa đưa ra.

+ Chú ý những mâu thuẫn trong tranh luận của người bào chữa và giữa những người bào chữa với nhau, giữa người bào chữa với người bảo vệ quyền lợi của các đương sự… trong quá trình tham gia phiên toà để làm cơ sở phản bác lại những ý kiến của họ.

2.1.4. Hoạt động của kiểm sát viên sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm hình sự

a. Báo cáo kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử

VBQPPL

- Quy chế công tác THQCT&KSXXHS (Điều 8)

 - Kiểm sát viên phải báo cáo với lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kết quả phiên toà sơ thẩm; đề xuất những vấn đề cần kháng nghị, kiến nghị, hướng giải quyết những vấn đề đó, nếu thấy cần thiết (Điều 8 Quy chế THQCT& KSXXHS).

- Báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm của VKSND cấp huyện gửi đến Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự, Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; báo cáo kết quả xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát quân sự khu vực gửi đến Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương.

- Báo cáo kết quả xét xử của VKSND cấp tỉnh gửi đến Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm khu vực; báo cáo kết quả xét xử của Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương gửi đến Viện kiểm sát quân sự Trung ương.

- Đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Kiểm sát viên đã tham gia xét xử sơ thẩm làm báo cáo kèm theo các văn bản, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết vụ án gửi Viện kiểm sát sẽ xét xử phúc thẩm để giải quyết theo thẩm quyền.

- Báo cáo kết quả phiên toà thực hiện theo mẫu của VKSND tối cao.

- Thông báo rút kinh nghiệm của Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự gửi cho Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử khu vực; Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự Trung ương; thông báo rút kinh nghiệm của Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm khu vực gửi Viện kiểm sát cấp tỉnh trong khu vực, nếu cần thiết thì gửi các VKSND tỉnh, thành phố; thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát cấp tỉnh gửi cho Viện kiểm sát cấp huyện thuộc phạm vi quản lý.

b. Kiểm tra biên bản phiên tòa

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 170 đến Điều 229) 

 - Căn cứ khoản 4 Điều 200 BLTTHS thì Kiểm sát viên được xem biên bản phiên toà, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà và ký xác nhận. Để kiểm tra biên bản phiên tòa, Kiểm sát viên đối chiếu bút ký của mình tại phiên tòa với biên bản phiên toà xem biên bản phiên tòa có ghi đầy đủ không? Có mâu thuẫn gì không? Nếu phát hiện sai sót thì yêu cầu sửa chữa, bổ sung (lưu ý không được sửa chữa tẩy xoá vào những phần đã ghi mà phải ghi xuống phía sau những phần đó và Kiểm sát viên cùng Thư ký tòa án ký vào phần bổ sung).

- Kiểm sát biên bản phiên tòa thường liên quan chặt chẽ đến việc kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự. Do vậy, Kiểm sát viên cần nắm vững các quy định từ Điều 170 đến Điều 229 của BLTTHS để kịp thời phát hiện các vi phạm của Tòa án, có biện pháp yêu cầu Tòa án khắc phục.

c. Kiểm sát bản án, Quyết định của Tòa án

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 224)

- Quy chế công tác THQCT&KSXXHS (Điều 27) 

- Điều 27 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS quy định: “Kiểm sát viên phải kiểm tra bản án hoặc quyết định của Toà án nhằm phát hiện những sai sót và vi phạm của Toà án trong việc ra bản án hoặc Quyết định”. Khi kiểm tra bản án hoặc quyết định của Toà án Kiểm sát viên cần chú ý:

- Căn cứ Điều 224 BLTTHS để tiến hành kiểm sát bản án: bản án trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS. Bị cáo có những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS nào theo quy định của pháp luật và cần phải xử lý ra sao?...

- Tập trung đọc kỹ lưỡng toàn bộ bản án, cả phần thủ tục cũng như phần nội dung và phần quyết định của vụ án khi kiểm sát bản án.

- Phát hiện kịp thời những vi phạm, thiếu sót của bản án và có hướng xử lý tuỳ theo mức độ trong quá trình kiểm sát bản án. Những sai sót nhỏ không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án thì nhắc nhở, kiến nghị Thẩm phán Chủ toạ phiên toà khắc phục, sửa chữa kịp thời. Những thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến bản chất của vụ án, không đúng với thực tế khách quan thì phải xem xét thận trọng, kịp thời đề xuất với Lãnh đạo Viện quyết định kháng nghị.

d. Kiểm sát việc giao bản án.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (Điều 229) 

- Sau khi xét xử sơ thẩm xong, Kiểm sát viên cần tập trung vào việc kiểm sát việc giao bản án của Hội đồng xét xử bảo đảm việc giao bản án thực hiện theo quy định tại Điều 229 BLTTHS.

- Việc giao bản án ở đây phải được thể hiện bằng biên bản giao - nhận, có chữ ký của người nhận.

e. Kháng nghị bản án hoặc quyết định của tòa án, kiến nghị tòa án khắc phục vi phạm.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 ( Điều 36, Điều 232, Điều 249, Điều 250)

- Quy chế công tác THQCT& KSXXHS (các điều 33,10 )

- Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 của Viện trưởng VKSND tối cao Ngày 19/6/2008 về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị theo các yêu cầu của cải cách tư pháp 

- Kỹ năng phát hiện vi phạm.

Sau phiên xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên cần làm một số việc sau:

+ Kiểm tra ngay biên bản phiên tòa, biên bản nghị án, đối chiếu với những ghi chép tại phiên tòa;

+ Báo cáo ngay những diễn biến tại phiên tòa với lãnh đạo Viện kiểm sát, nhất là các ý kiến khác nhau về mức án, về đánh giá chứng cứ tại phiên tòa, quan điểm xét xử của Tòa án có phù hợp với quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát hay không để lãnh đạo Viện xem xét quyết định việc kháng nghị hay không?

+ Đọc kỹ và kiểm tra cụ thể từng phần của bản án, nhận định trong bản án và những phần quyết định cụ thể của bản án, xem xét về các căn cứ áp dụng hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phần tuyên về trách nhiệm dân sự…

+ Nếu các bản án, quyết định có kháng cáo thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu các đơn kháng cáo, nhất là các lý do kháng cáo mà bị cáo hoặc người tham gia tố tụng khác nêu ra…

+ Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ như vậy, Kiểm sát viên báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện, nêu rõ quan điểm có kháng nghị phúc thẩm hay không, lý do kháng nghị.

- Kỹ năng xây dựng kháng nghị phúc thẩm.

+ Về thẩm quyền: Căn cứ Điều 232 BLTTHS thì Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

+ VKSND tối cao đã ban hành mẫu số 138 ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007, khi viết kháng nghị phúc thẩm cần đáp ứng các yêu cầu sau:

Về hình thức kháng nghị: Hình thức kháng nghị phải thực hiện đúng mẫu quy định. Căn cứ điều luật để ban hành kháng nghị phúc thẩm là Điều 36 và Điều 232 BLTTHS.

Về nội dung kháng nghị: Điều 33 của Quy chế THQCT&KSXXHS xác định bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây: Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm trong việc áp dụng BLHS. Đây là những trường hợp mà Hội đồng xét xử đã áp dụng các quy định của BLHS không đúng; thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.

Khi viết kháng nghị phải phân tích thật cụ thể vi phạm của bản án sơ thẩm. Vi phạm về thủ tục tố tụng hay vi phạm trong việc áp dụng các quy định của BLHS và viện dẫn căn cứ pháp luật cụ thể (điều luật hoặc của văn bản hướng dẫn áp dụng). Đối với vụ án có nhiều bị cáo bị kháng nghị thì phải phân tích vai trò tham gia thực hiện tội phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của từng bị cáo, đánh giá một cách toàn diện các căn cứ, cơ sở quyết định hình phạt để đề xuất việc xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Đối với vụ án có đồng phạm nhưng chỉ kháng nghị đối với một hoặc một số bị cáo cần có sự phân tích vị trí, vai trò cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo bị kháng nghị so với bị cáo không bị kháng nghị để kháng nghị có căn cứ và có sức thuyết phục.

Trên cơ sở phân tích, lập luận những vi phạm của bản án sơ thẩm phần quyết định của kháng nghị phải cụ thể. Kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án? Nếu kháng nghị một phần cần nêu rõ kháng nghị phần nào về áp dụng điểm, khoản, điều luật; về hình phạt hay bồi thường… Kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng nào? tăng hoặc giảm hình phạt đối với bị cáo (hoặc các bị cáo); chuyển từ việc cho bị cáo được hưởng án treo sang không cho hưởng án treo hoặc ngược lại, tăng hoặc giảm mức bồi thường…

Về thời hạn kháng nghị: Quyết định kháng nghị phải được làm trong thời hạn mà pháp luật quy định. Đối với bản án là 15 ngày ở Viện kiểm sát cùng cấp và 30 ngày là ở Viện kiểm sát trên một cấp.

- Kiến nghị Toà án khắc phục vi phạm.

- Căn cứ khoản 1 điều 10 Quy chế công tác THQCT& KSXXHS thì khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, nếu phát hiện Toà án có vi phạm pháp luật trong việc xét xử vụ án thì tuỳ từng trường hợp, Kiểm sát viên tự mình hoặc báo cáo Lãnh đạo Viện kiến nghị với Toà án khắc phục vi phạm.

- Kiến nghị có thể ban hành ngay sau phiên toà, nhưng thường là tổng hợp lại thành một dạng để kiến nghị chung theo định kỳ 6 tháng, 1 năm.

- Căn cứ khoản 2 Điều 10 Quy chế công tác THQCT&KSXXHS thì khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, nếu phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm thì Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện để xem xét kiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan khắc phục, áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

- Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm, VKSND có quyền kiến nghị với TAND cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc xét xử, kiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

- Về hình thức của kiến nghị hiện nay chưa có mẫu kiến nghị. Thông thường, hình thức kiến nghị được trình bày dưới dạng một văn bản có trích yếu nội dung chính của kiến nghị. Khi viết kiến nghị cũng phải bảo đảm sự chính xác trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý. Nội dung kiến nghị phải nêu các vấn đề cần kiến nghị theo những dạng vi phạm nhất định có dẫn chứng minh họa và trích dẫn căn cứ pháp luật bị vi phạm.

- Để kiến nghị có nội dung tốt và đem lại hiệu quả cao, Kiểm sát viên cần chú ý tích lũy vi phạm theo những dạng vi phạm nhất định, như vi phạm về thời hạn tố tụng (thời hạn chuyển hồ sơ của các Tòa án cấp sơ thẩm, thời hạn xét xử phúc thẩm, thời hạn tạm giam…); vi phạm về thực hiện các thủ tục tố tụng (biên bản nghị án, biên bản phiên tòa, việc triệu tập những người tham gia phiên tòa phúc thẩm…); vi phạm trong việc áp dụng luật hình sự, về đường lối xét xử đối với những loại tội nhất định. Việc kiến nghị khắc phục vi phạm không chỉ đối với Tòa án cấp phúc thẩm mà còn đối với cả các Tòa án cấp sơ thẩm cũng như các Cơ quan điều tra và các chủ thể khác nếu phát hiện có vi phạm.

f. Kiểm sát việc kháng cáo, kháng nghị.

VBQPPL

- BLTTHS năm 2003 (các điều 231, 233, 234, 235, 236, 237, 238 )

 

 

Sau phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên còn phải chú ý kiểm sát việc kháng cáo, kháng nghị. Khi tiến hành kiểm sát việc kháng cáo, kháng nghị cần chú ý các quy định tại các điều luật sau của BLTTHS:

- Điều 231. Những người có quyền kháng cáo.

- Điều 233. Thủ tục kháng cáo và kháng nghị.

- Điều 234. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Điều 235. Kháng cáo quá hạn.

- Điều 236. Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị.

- Điều 237. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị.

- Điều 238. Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị.

g. Theo dõi kết quả xét xử phúc thẩm.

VBQPPL

- Quy chế THQCT&KSXXHS (Điều 31 )

 

 Điều 31 Quy chế THQCT&KSXXHS quy định:

- Nếu bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì Kiểm sát viên đã giải quyết vụ án phải theo dõi kết quả xét xử phúc thẩm để kiểm tra lại nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Trường hợp không nhất trí với bản án hoặc quyết định phúc thẩm thì Kiểm sát viên báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện cấp mình ký văn bản đề nghị VKSND tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Nếu bản án hoặc quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Kiểm sát viên đã giải quyết vụ án phải theo dõi kết quả xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để báo cáo Lãnh đạo Viện và Thủ trưởng đơn vị. Kiểm sát viên cần trực tiếp dự phiên toà phúc thẩm (nhất là đối với các vụ án có kháng nghị của Viện kiểm sát). Nếu thấy không nhất trí với kết quả xét xử phúc thẩm, thì Kiểm sát viên nêu rõ lý do, có văn bản báo cáo với Lãnh đạo Viện cấp mình, để Lãnh đạo Viện báo cáo với VKSND tối cao xem xét, kháng nghị giám đốc thẩm. Trách nhiệm theo dõi và đề xuất ý kiến là thuộc Kiểm sát viên đã giải quyết vụ án sơ thẩm.

- Gặp trường hợp bản án hoặc quyết định sơ thẩm tuy đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị cấp có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Kiểm sát viên có trách nhiệm tìm hiểu lý do vì sao mà bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và theo dõi kết quả xét xử.

h. Lập, sử dụng và lưu trữ hồ sơ kiểm sát án hình sự.

VBQPPL

- Quy chế THQCT&KSXXHS (Điều 75 )

 

 - Việc lập, sử dụng và lưu trữ hồ sơ kiểm sát án hình sự phải thực hiện theo quy định tại Điều 75 Quy chế THQCT&KSXXHS.

- Sau khi kết thúc phiên toà, Kiểm sát viên làm báo cáo bằng văn bản (theo mẫu thống nhất) gửi cho các cấp theo quy định. Sắp xếp lại hồ sơ kiểm sát, cho đánh số bút lục, làm danh mục bảng kê các tài liệu có trong hồ sơ kiểm sát… Những tài liệu bổ sung sau này cũng phải được đưa đầy đủ vào hồ sơ kiểm sát.

 

- Kiểm sát viên là người có trách nhiệm quản lý hồ sơ kiểm sát. Chỉ giao hồ sơ kiểm sát cho cấp có thẩm quyền và khi giao phải làm thủ tục giao – nhận theo thủ tục hành chính. Đơn vị mượn hồ sơ nghiên cứu, khi xong việc phải trả lại đầy đủ.